Luật an ninh mạng được thông qua 12/06/2018


Kết quả biểu quyết dự án Luật An ninh mạng.

Kết quả biểu quyết dự án Luật An ninh mạng.

Phần 1: Toàn văn luật

Phần 2: 9 Điều đáng chú ý

Phần 3: Viễn cảnh

Phần 1: Toàn văn luật

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. An ninh mạng là việc bảo đảm cho hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Bảo vệ an ninh mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng.

3. Không gian mạng là mạng kết nối của hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.

4. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ thiết lập, quản lý và kiểm soát.

5. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia là hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật để tạo lập, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin trên không gian mạng quốc gia, bao gồm:

a) Hệ thống truyền động bao gồm hệ thống truyền dẫn quốc gia, hệ thống truyền dẫn kết nối quốc tế, hệ thống vệ tinh, hệ thống truyền dẫn của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trong không gian. mạng;

b) Hệ thống dịch vụ cốt lõi bao gồm hệ thống dẫn đường và định tuyến thông tin quốc gia, hệ thống phân giải tên miền quốc gia (DNS), hệ thống xác thực quốc gia (PKI/CA) và các hệ thống cung cấp dịch vụ truy cập, kết nối. internet của các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng;

c) Dịch vụ và ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm cả dịch vụ trực tuyến; ứng dụng công nghệ thông tin có kết nối mạng phục vụ quản lý, điều hành của cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế, tài chính quan trọng; cơ sở dữ liệu quốc gia.

Dịch vụ trực tuyến bao gồm chính phủ điện tử, thương mại điện tử, website, diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội, blog;

đ) Hạ tầng công nghệ thông tin của thành phố thông minh, Internet vạn vật, hệ thống phức hợp thực-ảo, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống dữ liệu nhanh và hệ thống trí tuệ nhân tạo.

6. Cổng kết nối mạng quốc tế là nơi diễn ra hoạt động truyền, nhận tín hiệu mạng giữa Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ.

7. Tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự.

8. Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để phá hoại, gây rối loạn hoạt động của máy tính, mạng máy tính, hệ thống thông tin.

9. Khủng bố mạng là việc sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi khủng bố, tài trợ cho hoạt động khủng bố.

10. Gián điệp mạng là hành vi cố ý bỏ qua cảnh báo, mã truy cập, mật khẩu, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng các thủ đoạn khác để chiếm đoạt, thu thập trái phép thông tin, nguồn thông tin trên mạng. viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

11. Số tài khoản là thông tin dùng để xác thực, xác thực và cấp phép sử dụng các ứng dụng, dịch vụ trên không gian mạng.

12. Mối đe dọa an ninh mạng là tình trạng không gian mạng xuất hiện nguy cơ xâm phạm an ninh quốc gia, gây tổn hại nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

13. Sự cố an ninh mạng là sự cố bất ngờ trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

14. Các tình huống nguy hiểm về an ninh mạng là sự kiện xảy ra trên không gian mạng khi có hành vi xâm phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia, đặc biệt nghiêm trọng gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc gây thiệt hại về tính mạng con người.

Điều 4. Nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2 bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

………

Điều 16.
Ngăn chặn và xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

…….

Điều 26. Bảo đảm an toàn thông tin trên không gian mạng

1. Trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc chuyên trang trên mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấpp, đăng, truyền thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này và các thông tin khác có nội dung xâm phạm an ninh quốc gia.

2. Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có các trách nhiệm sau:

a) Xác minh thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản kỹ thuật số; bảo mật thông tin và tài khoản người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng;

b) Ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xóa thông tin có nội dung quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này đối với dịch vụ hoặc hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông và lưu giữ nhật ký hệ thống để phục vụ công tác điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong thời gian quy định của pháp luật. Chính phủ;

c) Không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và dịch vụ giá trị gia tăng cho tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Cảnh sát hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông.

3. Doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích và xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người dùng dịch vụ tại Việt Nam phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian do Chính phủ quy định.

Doanh nghiệp nước ngoài quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.

Điều 43. Hiệu lực

1. Luật này có Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

Phần 2: 9 Điều đáng chú ý

Vậy là Luật An ninh mạng đã chính thức được thông qua.

Tuy nhiên!

Nếu mọi người còn nhớ Điều 292 – BLHS (sau khi được phê duyệt) vẫn bị bãi bỏ sau khi tham khảo ý kiến ​​của Cộng đồng khởi nghiệp.

Lịch sử cho thấy Chính phủ và Quốc hội luôn lắng nghe chúng tôi.

Vì vậy, Hùng rất mong các anh em “Start-up Việt Nam” và toàn thể anh em ngành CNTT tiếp tục kiến ​​nghị Quốc hội xem xét lùi thời hạn thực hiện, sửa đổi, bổ sung Luật An ninh mạng. .

Tuy nhiên muốn đóng góp ý kiến ​​thì phải hiểu trước đã, không phải ai cũng có thời gian đọc cái Luật dài lê thê này đâu em ghép thủ công 2 ảnh này để mọi người hiểu tại sao anh em IT cả nước lại phản đối kịch liệt như vậy.

Chúng tôi vẫn 6 tháng Nhưng chúng ta cần hành động ngay với thái độ kiên quyết, cùng nhau hợp tác.

Hãy chia sẻ để hành động sáng suốt, hiểu biết và đúng pháp luật.

PS: Theo yêu cầu của mọi người, mình bổ sung bản HD, các bạn có thể download bản HD hoặc PDF để nhúng vào bài viết.

Phần 3: Viễn cảnh

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Hà Nội, ngày 8 tháng 6 năm 2018 – Chúng tôi nhận thấy dự thảo luật an ninh mạng đang được trình ra Quốc hội có thể dẫn đến trở ngại nghiêm trọng đối với tương lai của an ninh mạng và đổi mới kỹ thuật số của Việt Nam, và có thể không phù hợp với các cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam. Mỹ, Canada kêu gọi Việt Nam hoãn biểu quyết về dự luật này để đảm bảo rằng nó phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

(Hết thông báo)

Thư ngỏ gửi Quốc hội về dự thảo Luật An ninh mạng

Dương Ngọc Thái

Cục An ninh mạng, Bộ Công an (Việt Nam)

Ngày 28/8/2014, Bộ Công an công bố quyết định thành lập Cục An ninh mạng.

  • Giám đốc: Trung tướng Hoàng Phước Thuận
  • Phó Giám đốc: Thiếu tướng Trần Công Trường (Nguyên Giám đốc Công an Hà Tĩnh)
  • Phó Giám đốc: Thiếu tướng Lê Minh Mạnh
  • Phó Giám đốc: Đại tá Nguyễn Văn Thịnh

Cục An ninh mạng (A68)[1][2][3] thuộc Bộ Công an Việt Nam là cơ quan đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý, điều hành công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng.

Cục An toàn thông tin là cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông

https://ais.gov.vn/chuc-nang-nhiem-vu.htm

Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Thanh Hải – Cục trưởng Cục An toàn thông tin.
Trụ sở chính: 18 Nguyễn Du, Hà Nội
Điện thoại: +84 4 3943 6684 Fax: +84 4 3943 6684

Luật an ninh mạng ở Châu Âu và Châu Mỹ

Facebook

Mọi người, tôi chưa bao giờ trả lời báo chí về Luật An ninh mạng như một số nơi đã đưa tin. Tại Facebook, tôi hỗ trợ các khách hàng doanh nghiệp Việt Nam, vì vậy hãy đảm bảo rằng tôi Không bao giờ lên tiếng về những vấn đề nằm ngoài phạm vi công việc của bạn. Cảm ơn tất cả các bạn đã hỏi.

Các bạn, nhiều người đã liên hệ và hỏi liệu tôi đã phản hồi công khai về Luật An ninh mạng ngày hôm qua chưa. Những báo cáo đó là không đúng sự thật. Tại Facebook, vai trò của tôi là hỗ trợ các doanh nghiệp tại Việt Nam. Vui lòng hiểu rằng tất cả các thông tin liên lạc liên quan đến các vấn đề phi kinh doanh của Facebook chắc chắn sẽ không đến từ tôi. Cảm ơn vì đã kiểm tra.

Ngay sau khi Luật An ninh mạng được thông qua vào ngày 12/6, trên mạng xã hội liên tục xuất hiện thông tin bà Lê Diệp Kiều Trang, Giám đốc Facebook Việt Nam cho biết đang hoàn tất các thủ tục pháp lý. để chuẩn bị thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Trước đây, mặc dù Facebook có bộ phận quản lý Facebook Việt Nam dành riêng cho thị trường Việt Nam nhưng lại có trụ sở tại Singapore. Giờ đây, việc chuyển văn phòng sang Việt Nam sẽ giúp hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của Facebook tại Việt Nam. Đặc biệt là hoạt động quảng bá doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp, khởi nghiệp Việt Nam.

Trước thông tin này, đại diện Facebook Việt Nam khẳng định thông tin phát ngôn của bà Lê Diệp Kiều Trang là không chính xác. Facebook cũng cho biết đến thời điểm này vẫn là chưa đưa ra thông điệp hay kế hoạch mở văn phòng tại Việt Nam.

Về phía Google, đại diện truyền thông của hãng tại Việt Nam cũng cho biết như vậy và cho biết sẽ sớm thông báo khi có thông tin mới.

Hãy suy nghĩ trước khi bạn chia sẻ Việt Nam

15 đại biểu không tán thành thông qua Luật An ninh mạng

Leave a Comment