Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử

[ad_1]

Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử

Dạy

Đề tài: Cảnh quê đẹp nhưng thấm đượm một nỗi buồn qua thôn Vĩ Gia này của Hàn Mặc Tử. Phân tích bài thơ để chứng minh điều đó.

Lời yêu cầu: Phân tích bài thơ để làm nổi bật vẻ đẹp và nỗi buồn của bức tranh thôn Vĩ đã được khúc xạ qua niềm tiếc nuối bâng khuâng của Hàn Mặc Tử về một mối tình dang dở bất hạnh.

Cảnh và tình gắn bó chặt chẽ với nhau, tình ở trong cảnh, cảnh nói lên tình ở những hình ảnh thơ mới mẻ, sáng tạo, ý thơ độc đáo, sâu sắc và đặc biệt là ở giọng trầm buồn rất đặc trưng của Hàn Mặc. Từ (có thể kết hợp thuyết minh thêm về nỗi buồn của nhà thơ trong bài thơ).

Phân công:

Tôi mê đắm nỗi buồn thơ Hàn Mặc Tử – một thi sĩ tài hoa nhưng đã lưu lạc. Dường như khoảng thời gian ngắn ngủi mà Tử Tiêu tồn tại trên cõi đời này là để dành cho tình yêu. Yêu điên cuồng thế gian…dù bị bệnh tật hành hạ. Nỗi buồn trong thơ ông có nhiều cung bậc khác nhau, có khi bi lụy, có khi mang chút gì đó vô tâm… nhưng tất cả đều cộng hưởng một khát vọng sống tột độ. Có những câu thơ, bài thơ đọc lên ta thấy day dứt, nhức nhối; nhưng có những bài thơ cho ta một cảm giác buồn rất tinh tế – “Đây thôn Vĩ Gia” là một bài thơ như thế với cảnh, với tâm hồn đẹp của người xứ Huế, thấm đượm một nỗi buồn sâu thẳm:

Vườn Huế mộng mơ và nên thơ, đẹp nhưng là vẻ đẹp của một bức tranh nhạy cảm. Ánh nắng trinh nguyên của buổi sớm thôn Vĩ như rải những vệt sáng trên những cành lá còn ướt sương đêm. Buổi sáng vàng ùa về Vĩ Giạ, hòa quyện với cỏ cây, ngước mắt nhìn những hàng cau thẳng tắp rợp bóng nắng “Nắng cau” có lẽ chỉ thôn Vĩ mới có nắng tinh khiết. Rồi như cảm nhận được hương nắng tỏa vào không gian, mùi thơm rất nhẹ của hoa cau mới nở. “Trông mặt trời, mặt trời mới mọc”, câu thơ có bảy chữ nhưng hai chữ “mặt trời” tạo cho ta cảm giác về mức độ của ánh sáng; Đầu tiên là “ngắm nắng” là một sáng kiến ​​chủ động, chúng ta được định hướng rất tự nhiên và từ đó vươn lên một góc nhìn tập trung là “cau nắng” để đón nhận một cảm giác trong lành, trinh nguyên. Cái gốc “bình minh”, màu nắng, mùi vị của nắng hòa với cảnh vật vừa như vút lên trong rặng cau thanh tao xứ Huế, rồi bỗng như ùa xuống, trải dài khắp “Vườn ai”. xanh mềm như ngọc”. Câu thơ như thốt lên, như chạnh lòng kêu lên khi nhìn thấy màu xanh ngọc bích ấy. Khu vườn nhà ai bỗng bừng sáng, bừng sáng cả một không gian đất trời êm ả, trong lành. Cảnh thôn Vĩ vào một buổi sáng sớm làm ta liên tưởng đến cảnh tượng được tắm trong trận mưa rào đêm qua, cây cối được gột rửa sạch sẽ và tinh khiết vô cùng, chỉ còn đọng lại những giọt nước rất nhỏ trên cành lá. chờ từng tia nắng xuyên qua. Có lẽ chỉ chữ “mượt” là đủ, nhưng thêm chữ “xanh” sau càng làm nổi bật thêm vẻ tươi mát, xum xuê của Vĩ Gia. Người Huế, thường đồng nhất hai từ “vườn” và “nhà”, bởi ở đây nhà nào cũng có vườn bao quanh. Mỗi ngôi nhà là một không gian khá rộng gồm những ngôi nhà nhỏ đặt ở giữa, xung quanh là cây cối tạo nên một cấu trúc thẩm mỹ rất gắn kết và hài hòa. Trong mạch bất ngờ, những câu thơ tiếp theo là một phát hiện mới, hòa vào không gian trong lành ấy thấp thoáng bóng dáng con người:

“Lá trúc che ngang hoàn toàn kiểu chữ”

Đoạn thơ đã thể hiện được hồn thôn Vĩ. Với sự xuất hiện của con người, thiên nhiên như được thổi thêm sức sống, tạo nên vẻ đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình, vẻ đẹp kín đáo, hiền lành, nhân hậu và chất phác của người dân quê. Trong vườn Huế, cũng như một lời mời thiết tha, nửa trách móc:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Ta như có cảm giác trong bài thơ có hai nhân vật trữ tình, một người đang xa cách trách móc người kia thờ ơ với một kỉ niệm đẹp. Còn nhân vật trữ tình thứ hai thì bàng hoàng tiếc nuối, anh bị lôi thôi trách móc: “Cảnh đẹp quá sao em không về chơi”. Câu mở đầu cho bài thơ là một lời mời gọi đồng thời cũng chứa đựng một sự tiếc nuối, day dứt. Có thể thấy, những cảnh đẹp của vườn Vĩ Gia chỉ là cái vỏ của một tấm lòng xao xuyến, rõ ràng bài thơ không đơn thuần là bày tỏ tình yêu Huế, mà là một bóng hình thơ. đã từng tràn đầy lòng trắc ẩn. Bài thơ làm ở Qui Nhơn nên cảnh Huế chỉ là hư ảo. Nhà thơ là người đa cảm, sống cách biệt với những người thân yêu nên hơn bao giờ hết, ông khao khát được sống lại những ngày xưa, những kỷ niệm ngọt ngào. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” hay đó là lời của nhà thơ, đã mạo danh một người khác để bày tỏ nỗi lòng của mình, nói lên một lời chào, một lời mời tha thiết nhưng ngay sau đó như thể anh đã không trốn thoát. tránh những gì trong tâm hồn bạn. Anh tỉnh dậy, nhận ra rằng đó chỉ là tưởng tượng của anh, một giấc mơ của riêng anh. Vì Vĩ, thôn Vĩ chỉ còn là nỗi nhớ, chỉ là sự trở về trong ký ức của một người đang rất cần một tình yêu và một tâm hồn để sưởi ấm trái tim mình. Vì vậy, cảnh vật hiện lên đẹp nhưng vẫn thấm đẫm một nỗi buồn sâu thẳm. Và chính vì nỗi buồn thăm thẳm ấy mà cội nguồn kỉ niệm vẫn vẹn nguyên nhưng ở đây không còn là sự trong lành của một buổi sáng thôn Vĩ mà bỗng chuyển sang cảnh vật của dòng sông, của dòng sông Hương. với mây và gió: “Gió chạy theo chiều mây bay theo chiều mây”.

Ở khổ thơ thứ hai này, từng câu thơ như trải ra một cách chậm rãi, nhẹ nhàng và thanh tao như chính tâm hồn của con người xứ Huế. Vẫn là hình thức tả cảnh thiên nhiên, nhưng ở đây, dù có che giấu kĩ đến đâu, nhà thơ vẫn bộc lộ được tình cảm chân thật của lòng mình, vẫn chưa thoát khỏi sự hư ảo của tâm hồn. Gió và mây, đều gợi sự chia cắt của “gió”, “đường mây”, ranh giới mỗi lúc được mở rộng, tăng thêm khoảng cách, “mây” và “gió” mỗi từ được lặp lại hai lần trong một câu thơ, sự lặp lại dường như càng lúc càng bị đẩy ra xa. Phải chăng sự chia ly ấy cũng là sự phân tán của lòng người. Câu thơ như bị xé toạc, đẩy ra xa chứ không đứt làm đôi, tạo thêm da diết, da diết, như cắt vào nỗi đau chia ly của người đi. Đến đây, không còn là cái mới tươi sáng ở khổ thơ đầu nữa mà là màu sắc của sự tĩnh lặng: “Mặt nước buồn man mác”. Cảnh đẹp mà buồn, hay bởi nhà thơ đang trải hồn mình trên cảnh. Xưa “người buồn bao giờ vui”, hơn bao giờ hết, nhà thơ bây giờ cảm thấy lắng đọng trong lòng mình, nhìn dòng nước trôi, sự vận động của thiên nhiên dường như chậm lại, nhưng không gian vẫn rộng mở, thăm thẳm. , làm tăng thêm nỗi cô đơn. Hai chữ “buồn” đặt ở giữa bài thơ là một nỗi buồn lan tỏa, lặng lẽ lơ lửng trên dòng nước chảy, như thấm vào để lay nhẹ những bông ngô đồng bên sông, rung một chút đủ để diễn tả một nỗi buồn sâu lắng. Trong nỗi buồn nặng trĩu của cảnh chia tay ấy, đắm chìm trong hư ảo của màu trắng, nhà thơ bỗng bâng khuâng với lời nhắn gửi:

Thuyền ai cập bến sông trăng

Cõng trăng đêm nay !?

Mộng thật là ảo, thiên nhiên như trăng rằm. Ở khổ thơ đầu, vẫn là bức tranh thiên nhiên ngập tràn ánh nắng, nay đã nhuốm màu ánh trăng. Mỗi câu thơ đều tỏa ra một màu sắc, có một ánh sáng le lói, làm cho tâm hồn cảm nhận rõ hơn sự trống vắng, lạnh lẽo của chính mình. Thế nên bất chợt nhìn thấy thấp thoáng con đò, trái tim nhà thơ bỗng rung động mãnh liệt nhưng vẫn ở một trạng thái rất mơ hồ, vô định.

Thơ Hàn Mặc Tử dường như có sự thâm nhập quá nhiều của ánh trăng nên bao giờ cũng tạo nên một vẻ đẹp mộng mơ huyền ảo và rất nên thơ. Giữa mênh mông hư ảo, trăng như thấm vào từng kẽ lá, hòa vào từng dòng nước nhỏ. Dòng sông đầy ánh trăng, “Sông trăng” chỉ Hàn Mặc Tử mới hình dung được cả dòng sông trăng của sông Hương, ánh trăng huyền ảo tràn ngập vũ trụ tạo nên một không gian hư ảo, và chỉ trong giấc mơ ấy người ta mới cảm nhận được sông trăng, trăng bến và con thuyền có thể “cõng trăng về” như một du khách trên sông Hương. Hình ảnh thuyền chở trăng đó rõ ràng không phải là mới, và ngay cả sau này Bác Hồ cũng có hình ảnh này:

Tất nhiên không thể so sánh vì hai câu thơ tuy cùng mang một hình ảnh nhưng lại là hai tâm trạng hoàn toàn khác nhau. Nhà thơ ở đây rất cô đơn, khao khát có người sẻ chia tâm sự: “Đêm nay có đem trăng về kịp” là một nỗi lòng mong chờ, một câu hỏi gần như là một sự khắc khoải. Con đò chất phác trên bến vắng tạo trong lòng người ta một cảm giác mong chờ, hi vọng, chờ đợi một điều gì đó rơi xuống, biết đâu có thể, có thể bao giờ trở lại. Cảm xúc ấy trào dâng trong lòng nhà thơ. Cả 4 câu thơ của khổ thơ thứ hai là sự biến ảo của bút pháp tài tình làm cho cảnh thêm huyền ảo, tình thêm nồng nàn, mãnh liệt.

Đoạn thơ mang một nỗi buồn, một sự tiếc nuối còn đọng lại trong cái mạch hư ảo ấy:

Mộ khách đường xa, khách đường xa

Áo sơ mi của tôi quá trắng để nhìn thấy

Ở khổ thơ cuối, cảm giác bâng khuâng, mê mẩn với mây trời, sông nước dường như lan tỏa cả cảm giác mơ hồ của thực tại. Nhưng dù mơ hồ, dù huyền ảo, “không thấy đâu” vẫn thấy rõ hay đúng hơn là cảm rất rõ một bóng hình người con gái Huế, nhưng không nắm bắt được, đó vẫn là trong giấc mơ. Hình bóng chập chờn ấy làm tăng thêm nỗi khắc khoải của lòng người đa cảm, cảm giác gần mà xa xăm bởi nhà thơ chỉ cảm nhận được tà áo trắng hiện ra rồi biến mất chứ không thể nhìn thấy bằng mắt. tầm nhìn của anh ấy. Màu trắng chỉ là một ấn tượng làm cho sự thất vọng lên đến cao độ, muốn bấu víu mà níu kéo, mà cảnh sắc quá đỗi, chìm trong màu sương khói:

Sương mù ở đây

Bóng người đẹp mờ trong sương, cảnh vật phủ một màn sương nhưng cũng có thể đó là ẩn ý của nhà thơ, phải chăng sương là khoảng cách của thời gian, là màu của một mối tình đơn phương? mong. Nhà thơ đem lòng yêu một cô gái Huế, sống trong sự chờ đợi, hư ảo và trong khi yêu thì dễ ngờ vực:

Bất cứ ai biết in đậm?

Tự giải thích bằng một câu hỏi bâng khuâng, nhà thơ như dâng lên một nỗi niềm khắc khoải, đau đáu.

Những câu hỏi tu từ trong thơ cứ quẩn quanh mà không có lời giải đáp; những hình ảnh khu vườn xanh mướt, bến sông trăng, con đò và tình sâu nghĩa nặng mà nhà thơ như vô tình làm nhòa đi tạo nên sự bao la. Rồi hàng loạt từ “vườn ai”, “thương ai”, “ai biết”… cũng nhằm diễn tả cái mênh mông ấy. Bài thơ có ba khổ thơ, mỗi khổ thơ là một câu hỏi, một nỗi day dứt trong lòng: “Sao em không về chơi thôn Vĩ?”, “Đêm nay em có chở trăng về kịp không?”, và khổ cuối cũng là câu kết bài thơ: “Ai biết tình ai đậm đà?”, tiếng “a” như bàng bạc, kéo dài, như nỗi đau, nỗi buồn bị dòng đời kéo lê. Âm hưởng thơ buồn nhưng không làm lòng người chạnh lòng, bởi đằng sau cảm xúc của nhà thơ, ta thấy trào dâng một niềm khát khao về một cuộc sống tình nghĩa hoàn thiện hơn. Các chi tiết, thủ pháp nghệ thuật, bút pháp, câu văn được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng tình cảm riêng, tâm hồn riêng nên đọc cả bài thơ, ta không thấy có gì khiên cưỡng mà ngược lại. Ta như được sống cùng nhà thơ trong thế giới diệu kỳ của ông. Đoạn thơ là sự đan xen – của tình cảnh, bộc lộ vẻ đẹp thanh khiết gắn liền với một vùng quê xứ Huế – thôn Vĩ với những nét rất riêng của miền Trung.

Một cảnh đẹp nhưng đượm một nỗi buồn sâu lắng, “Đây thôn Vĩ Già” như một biện chứng tình cảm của người nghệ sĩ tài hoa, đa cảm. Con người luôn khao khát đạt đến sự thánh thiện của cuộc sống ấy, đã sống hết mình trong nỗi đau tinh thần và thể xác. Nỗi buồn cay đắng của nhà thơ cũng là tâm trạng của một lớp thanh niên lúc bấy giờ yêu say đắm nhưng không sao thoát khỏi nỗi buồn thời cuộc.

“Đây thôn Vĩ Giá” là một bức tranh đẹp nhưng rất khó vẽ. Vì cái diệu quá, cái tình quá mãnh liệt và có lẽ đó chính là điều làm cho bài thơ sống mãi, như sự trường tồn của một tâm hồn Hàn Mặc Tử!

Theo Baivanhay.com

[ad_2]

Leave a Comment