Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong tác phầm Đời thừa của nhà văn Nam Cao

[ad_1]

Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong tác phầm Đời thừa của nhà văn Nam Cao

Hướng dẫn

Đề bài: Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.

Yêu cầu:

– Yêu cầu của đề không phải là phân tích tác phẩm cũng không phải là phân tích nhân vật mà chỉ là phân tích một khía cạnh của nhân vật: bi kịch tinh thần. Tuy nhiên, để làm được việc ấy phải nắm được tác phẩm, trong trường hợp này, phải nắm toàn bộ tư tưởng, hành động, tính cách của nhân vật.

 

– Không chỉ phân tích bi kịch tịnh thần của nhân vật Hộ mà quan trọng hơn, qua đó thấy được tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.

 

Bài làm: Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, người đọc gặp bi kịch của kiếp “tài hoa bạc mệnh”, ở Chí Phèo của Nam Cao, là bi kịch của những khát khao lương thiện và cũng với Nam Gao ta gặp Đời thừa, tấm bi kịch tinh thần của người trí thức, Đời thừa bộc Ịộ rõ nét “tư tưởng nhân đạo mới mẻ độc đáo của nhà văn lớn Nam Cao”.

Bi kịch tinh thần của Hộ trong Đời thừa là bi kịch của một nhà văn – một trí thức giữa “cơn dâu bể” của cuộc đời, giữa một xã hội “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) – Nhà văn ấy giữ được phẩm giá của mình, ý thức được “thiên chức” cao cả của mình, vậy mà đành bó tay bất lực.

Có thể nói, bi kịch đầu tiên trong tấn bi kịch tinh thần của cuộc đời Hộ là bi kịch về những giấc mộng văn chương. Hộ đã đặt văn chương lên trên hết, văn chương dường như là khát vọng lớn nhất của anh. Anh muôn trở thành nhà văn chân chính – nhà văn biết “mở hồn đón lây những vang vọng,của đời”. Anh mơ ước đến một ngày anh sẽ viết được một tác phẩm lớn chung cho cả loài người. Nó đề cập đến những vấn đề bức xúc của cả xã hội, của cả nhân loại. Nó nổi được những cái ”lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó chung lòng thương, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn”. Và nhất định anh sẽ giật giải Nôben! Đó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại trong đời viết văn của anh. Nó sẽ làm rạng danh cho anh, cho nền văn học nước nhà. Đó quả là một ước mơ chính đáng! Không phải người nghệ sĩ nào cũng khao khát như vậy khi bước vào con đường văn chương đầy khổ ải. Nhà văn phải biết xây ước mơ đẹp, và khát vọng của Hộ là khát vọng mạnh mẽ nhất và đẹp nhất. Hộ xác định đúng con đường cho mình – xác định đúng tư tưởng cho mình.

Anh không sa vàọ những mơ mộng về nghệ thuật – nghệ thuật là “ánh trăng xanh huyền ảo” (như Điền trong Trăng sáng). Anh thấy ánh trăng của nghệ thuật biết “làm đẹp cả những cảnh thật rã chỉ tầm thường xấu xa”. Quan điểm của anh đúng đắn lắm! Tư tưởng của anh tiến bộ lắm! Thế nhưng, trong sáng tác của mình anh đã viết những gì? Anh đã cho ra đời những sáng tác như thế nào? Anh không hướng nghệ thuật vào “thứ văn chương của bọn nhàn rỗi”, nhưng anh đã viết những gì từ khi anh bắt tay vào sáng tác? Chao ôi! Thực tế có phải bao giờ cũng chiều theo khát vọng và đẹp nhự khát vọng đâu! Anh đã viết những bài mà thậm chí khi đọc thấy tên của mình dưới bài viết, ánh phải “đỏ mặt” xấu hổ. Anh giận dữ với chính anh. Anh khinh ghét những tác phẩm chỉ biết “gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông bằng một thứ văn quá ư bằng ‘phẳng dễ dãi” của chính mình. Dường như anh hoảng hốt, anh ngạc nhiên trước những bài viết của mình mới ra đời. Anh dằn vặt ghê gớm. Anh muôn nhưng có phải bao giờ ước muốn cũng thành hiện thực đâu! Và đó chính là cái bi kịch của anh – bi kịch của một đời viết văn – bi kịch của người hiểu mình biết mình phải làm gì và đành lựa bút theo những điều chẳng hề muốn. Tôi như cảm thấy cái đau đớn khủng khiếp tự chôn sâu thẳm của tâm hồn anh. Một cái gì đó bỗng chốc đổ sụp trong anh. Đấy chính là sự sụp đổ của một khát vọng đẹp và chân chính.

Anh phải viết ẩu như thế, bôi bác như thế chính là vì những ràng buộc của “áo cơm”. Chao ôi! Giá như anh cứ được bay nhảy với những giấc mơ ấy!

Nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Anh còn vợ và một đàn con nhỏ. Kiếp người với bao toan tính bộn bề níu kéo anh, không cho anh bay lên cùng giấc mộng của đời trai trẻ. Chính những nỗi lo về tiền bạc đã buộc anh phải viết những bài trái với lương, tâm và trách nhiệm. Trong đầu anh luôn quay cuồng với những tính toán về giá cả sinh hoạt, về bữa ăn hàng ngày… thì đâu còn chỗ cho văn chương nữa. Anh phải viết thật nhanh, thật nhiều để người vợ, đàn con và chính anh khỏi chết đói. Giá như anh cứ dứt bỏ cái mộng văn chương thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế! Nhưng anh cần nghĩ tới tác phẩm của anh – cái tác phẩm cho toàn nhân loại nên anh lại càng đau đớn! Nước mắt anh không chảy nhưng đớn đau thì chồng chất tập trung hơn. Chao ôi! “Đau đớn thay cho những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất” (Sống mòn). Đó chính là bi kịch của cuộc đời viết văn của anh – bi kịch của những giấc mộng văn chương chính là ở chỗ đó! Và tưởng như giấc mộng văn chương ấy chính là điều day dứt trong anh mãi không thôi.

Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết những dòng đầy cảm xúc như thế. Dường như những day dứt trong cuộc đời ông – cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tân bi kịch tinh thẩn của Hộ. Có người nổi, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước cách mạng. Tôi không hoàn toàn nghĩ thế. Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam.Cao hơn hẳn Hộ ông đã biết vượt lên trên những lo toan ấy để biên giấc mơ thành hiện thực. Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời về những kiếp lầm than và chắc chắn Nam,Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi chính đó là nơi giấc mơ văn chương nảy nở. Có thể tự tin mà nói rằng với Đời thừa, Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và sống đã cho ông viết những điều có sức rung dộng, lay chuyển lòng người đến thế! – chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao. Nhân đạo của sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sư cảm thông sâu sắc với người trí thức… Và có được những dòng như thế cũng là nhờ cái nhân đạo “mới mẻ” độc đáo của Nam Cao. Qua bi kịch tinh thần đầu tiên này của Hộ, Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc đời này. Và phải chăng tư tưởng ấy đã kế thừa được của cha ông lòng nhân đạo truyền thông. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sổi nổi – một trái tim của tình nghĩa.

Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi kịch thứ hai – bi kịch của một con người. Giấc mộng văn chương sụp đổ qua những bài viết ẩu. Thế nhưng Hộ vẫn còn một chút an ủi. Đó chính là cuộc sông, sự tồn tại của vợ con anh. Anh chưa thực hiện được khát vọng của mình, anh chưa viết được cuốn tiểu thuyết của đời anh, nhưng‘anh nuôi đủ vợ con. Anh đã kéo dài được sự tồn tại của gia đình mình. Và đó có thể coi là việc làm hữu ích. Đó là cái an ủi cho cái “đời thừa” của một nhà văn. Thế cũng đáng an ủi lắm chứ!

Vì anh là người đặt “tình thương” lên hàng đầu, lẽ sống của anh là tình thương. Tình thương là trên hết. Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tương lai của mình anh đã nói: Tác phẩm có giá trị là tác phẩm ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng. Trong văn chương, anh muôn ca ngợi tình thương và trong cuộc đời thực, tình thương là tất cả. Chính vì lẽ sông tình thương của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Những giọt nước mắt của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động. Họ muốn khóc cho đến khi bao xương thịt cứ tan ra thành nước mắt nhưng gặp anh, tình thương của anh đã tỏa rạng đến hộ, giúp họ thoát khỏi những đớn đau. Một người dám bỏ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là người dũng cảm lắm sao! Chính tình thương – lẽ sống tình thương đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp quá! Đời anh không phải là “đời thừa” với gia đình nho nhỏ của anh. Anh đau khổ vì tên anh cứ “lu mờ dần sau những tên khác mới xuất hiện rực rỡ”, nhưng với Từ và đàn con – anh là biểu tượng sáng chói của tình thương. Tình thương ấy là rất dáng trân trong. Trong một xã hội rác rưởi “chó đểu” như thế, hành dộng của anh chẳng là một hành động tốt đẹp hiếm hoi hay sao? Thế nhưng, anh cũng chẳng giữ được trọn vẹn cái lẽ sống cao quý ấy của mình nữa.Vẫn là một sai lầm khi anh kết luận nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ của giấc mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia. Anh cạn nghĩ quá! Đó không phải hoàn toàn là lỗi của vợ con anh. Thất vọng trong văn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến anh tìm niềm vui trong men rượu. Anh muốn quên, quên đi tất cả.

Anh không say trong men tình ái, trong khúc nhạc đong đưa… mà say khủng khiêp trong men rượu. Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về được đên nhà. Anh chỉ biết anh đã tĩnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rỗ rời. Men rượu chêttiệt ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện. Rượu đã khiến anh trở thành kẻ vô học, rượu đánh đồng những người xấu, người tốt, kẻ giàu, người nghèo trong những cơn say. Khi say, ai cũng như ai hết. Men rượu không giúp anh có được cái tình của Chí Phèo giúp hắn hướng về cái “thiên lường”. Men rượu đã khiến anh trở thành một kẻ tiểu nhân vô học. Anh vi phạm lẽ sống tình thương của mình. Anh đã đánh vợ cọn anh như một kẻ vũ phu. Vâng, chính lúc đó, anh là kẻ vũ phu. Anh đã đánh đập vợ, người vợ hiền lành tận tụy của mình không biết bao nhiêu lần nữa mà kể. Anh đã chỉ mặt Từ mà quát mắng: “Cả con mẹ mày nữa cũng đáng vật chết”..

Anh đã làm tất cả, tất cả trong say. Sao mà tai hại quá! Ạnh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp – cái phần “người” vô cùng cao đẹp trong tâm hồn anh. Đời anh coi như bỏ đi trong văn chương tưởng còn được an ủi bởi anh đã giữ được trọn lẽ sống tình thương của mình. Ai ngờ, cuộc sông vẫn không cho phép anh thực hiện được điều đó.

Thế mà nay, chính cái cách sống ấy anh cũng chà đạp nốt. Anh – cuộc đời anh quả là “đời thừa”. Bi kịch đầu tiên là bi kịch của những giấc mộng văn chương nên cái “thừa” còn không quá nhiều đau đớn như bi kịch này, bi kịch mà kết cục là cái “thừa” ấy của anh đã được thể hiện đầy đủ. Anh đã động đến phần cao quý nhất. Đó là bi kịch tinh thần của một con người mà đau đớn hơn, đó lại là của con người ý thức được phẩm giá nhân cách của mình nhiều nhất! ở bi kịch trước, cái mặc cảm tội lỗi trong anh rất lớn vì anh là một nhà văn. Nếu Chí Phèo chỉ gieo rắc tội lỗi của hắn cho dân làng Vũ Đại, anh giáo Thứ chỉ truyền sự chán nản lên đầu học sinh thì anh – anh gieo những “tình cảm rất nhẹ, rất nông” những tình cảm quá ư tầm thường ấy vào bao nhiêu độc giả. Sự nhiễm hại ây lớn hơn. Dù thế bi kịch thứ hai này – bi kịch của một con người mặc cảm tội lội còn lớn hơn nhiều. Với tư cách một nhà văn anh đã gây ảnh hưởng đến người đọc từ những bài văn viết lấy lợi nhuận. Với tư cách một con người, anh đã gây ra những điều ghê gớm hơn. Xã hội này đã quả nhiều, quá thừa những cái xấu. Anh cố giữ tốt đẹp trong mình thế mà anh cũng phá hỏng nốt. Mặc cảm này quá lớn và không hề có gì để an ủi được. Lẽ sông tình thương là cái dược anh đề cao nhất mà anh còn vi phạm thì chẳng còn gì nữa cả. Bi kịch náy của anh, lớn hơn gấp bội bi kịch kia bởi lẽ sống tình thương, chỗ dựa của bao giá trị bao phẩm giá khác đã sụp đổ. Bi kịch này khủng khiếp và hoàn toàn không có lối thoát và dường như nó bao trùm thành bi kịch của cả đời anh – một “đời thừa”. Anh đổ lỗi tất cả cho gia đình, nhưng tất cả là tại anh. Tuy vậy cũng cần nói thêm rằng, bi kịch ấy có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội đương thời. Chínhxã hội ấy đã đẩy anh phải lo “cơm áo gạo tiền” Nồi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Và chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sông tình thương của mình. Nguyên nhân ấy, cổ lẽ khi đó anh không hiểu được – nguyên nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến – nguyên nhân mà ngày ấy, người ta đã nhận ra. Anh chưa tìm được lối thoát cho sự bế tắc. Đó là cái bế tắc của thời đại mà anh sống.

Nhưng đó phải chăng là nét hạn chế trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao? Ổng đã biết đề cao những thất vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nỗi khổ của họ nhưng chưa đề ra được lối thoát cho họ. Nhưng những “tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo” ấy đã là đáng quý, đáng trân trọng,biết bao! Độc đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người – tình người nồng đượm bao la đằng sau lối viết văn tuởng như dửng dưng lãnh đạm.

Ngày nay cuộc đời đã được đổi thay. Lớp văn sĩ đã thoát khỏi dù là một phần những nỗi lo “cơm áo”, không còn những bi kịch tinh thần đau khổ như Hộ nữa. Nhà văn ngày nay được ưu đãi hơn. Nhưng ta không thể quên thời kì mà người trí thức văn nghệ sĩ mang những bi kịch tinh thần.

Tư tưởng nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam Cao đã khiến cho nhân vật dù qua bao thăng trầm vẫn đứng vững với tư cách một con người chân chính.

Bài làm 2:

1. Giới thiệu luận đề:

Cuộc sống cay cực của người tri thức nghèo là một đề tài phổ biến tron văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.

Nhà văn hiện thực Nam Cao đã viết rất nhiều và viết rất hay về đề tài này, mà Đời thừa (1943) là một truyện ngắn tiêu biểu. Qua nhân vật văn sĩ Hộ – nhân vật chính của truyện, Nam Cao đã phản ánh hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, tủi nhục, bế tắc của người trí thức nghèo đương thời. Nhưng giá trị thực sự của truyện là đã tập trung đi sâu vào tấn bi kịch tinh thần của người tri thức.

2. Thân bài:

Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ.

Truyện được kết cấu theo dòng tâm lí của nhân vật Hộ với những tâm trạng giằng xé phức tạp, mà bao trùm lên tất cả là trạng thái ăn năn, sám hối. Nhân vật Hộ cứ gây lỗi lầm rồi lại ăn năn, rồi lại tiếp tục lỗi lầm, trạng thái ăn năn tưởng như không bao giờ chấm dứt. Bằng những tâm trạng lặp đi lặp lại trong cái vòng sám hối lẩn quẩn như thế, Nam Cao đã thể hiện sâu sắc tấn bi kịch của người trí thức, đồng thời cho thấy bản chất tốt đẹp của họ.

Tấn bi kịch của Hộ là một “bi kịch kép’’, tức là có hai bi kịch song song tồn tại: bi kịch văn chương và bi kịch đời sống.

a. Bi kịch văn chương (bi kịch của một nhà văn):

Tấn bi kịch của Hộ trước hết là bi kịch của người trí thức có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn “nâng cao giá trị đời sống của mình’’ bằng một sự nghiệp có ích cho xã hội và được xã hội công nhận, nhưng chỉ vì gánh nặng cơm áo hàng ngày mà “kết cục chẳng làm được cái gì’’, trở thành một kẻ “vô ích’’, một “người thừa’’, sống một “đời thừa’’.

– Hộ từng ôm ấp một hoài bão lớn về sự nghiệp văn chương và vì nó Hộ có thể hi sinh tất cả: “Đói rét không có nghĩa lí gì đối với một gã trẻ tuổi say mê lí tưởng… Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả ; ngoài nghệ thuật ra không còn gì đáng quan tâm nữa’’.

+ Hộ khao khát vinh quang: “Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời’’. Đó không phải là sự thèm khát hư danh của một kẻ phàm tục, mà đó là niềm khao khát tự khẳng định trước cuộc đời của cá nhân có ý thức về mình, về giá trị của cuộc sống, không muốn sống một cách mờ nhạt, vô danh, vô nghĩa.

+ Cũng không nên coi ý nghĩ “nghệ thuật là tất cả’’ của Hộ là quan điểm “nghệ thuật vi nghệ thuật’’, là thái độ thoát li vô trách nhiệm. Đó chính là niềm say mê quên mình vì một hoài bão lớn của một con người sống có lí tưởng. Lí tưởng mà Hộ theo đuổi và cố đạt tới là một sự nghiệp nghệ thuật chân chính có ích, thấm đẫm tinh thân nhân đạo. Trong một phút cao hứng giữa bạn bè, anh đã nói lên mơ ước của mình về một tác phẩm văn chương thật giá trị: “Một tác phẩm có giá trị phải vượt lên mọi bờ cõi và giới hạn. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình. Nó làm người gần người hơn’’. Đó là những ý kiến rất sâu sắc cho thấy lí tưởng nghệ thuật cao đẹp và quan niệm văn chương đúng đắn của Hộ – cũng là của Nam Cao.

+ Hộ chẳng những rất mê văn mà còn coi văn chương là một niềm vui lớn không có lạc thú vật chất nào sánh được. Anh coi văn chương là lẽ sống, là lí tưởng của đời anh.

– Nhưng Hộ đã không đạt được lí tưởng của mình, thậm chí còn đi ngược lại với lí tưởng. Chỉ vì những lo lắng triền miên về vật chất, “những bận rộn tẹp nhẹp vô nghĩa lí’’ của đời sống cơm áo hằng ngày của cái gia đình nhỏ mà Hộ có trách nhiệm phải gánh vác.

+ Từ khi “có cả một gia đình phải chăm lo’’, Hộ không thể khinh thường đồng tiền như trước kia, mà trái lại phải ra sức kiếm tiền. Với Hộ, cách kiếm tiền duy nhất là viết văn. Nhưng vì để kiếm tiền, Hộ không thể viết một cách thận trọng theo yêu cầu khắt khe của nghệ thuật chân chính, mà phải viết nhanh, viết nhiều, có nghĩa là phải viết ẩu, viết một cách dễ dải, cẩu thả: “Hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng… phải viết những bài báo để người đọc rồi quên ngay sau lúc đọc’’.

+ Đây là điều đau khổ, nhục nhã đối với Hộ. Hộ xấu hổ khi phải đọc lại văn của mình, “toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, đem một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi’’. Với Hộ, một nhà văn có lí tưởng nghệ thuật cao đẹp, có lương tâm nghề nghiệp, lại hiểu rất rõ “văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có’’, thì viết dễ dãi cẩu thả là điều “bất lương’’, “đê tiện’’, không thể nào tha thứ được.

Tấn bi kịch tinh thần đau đớn của Hộ chính là ở chỗ đó: “Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì để nâng cao giá trị đời sống của mình mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt?’’. Đó là bi kịch của con người muốn sống cuộc sống ý nghĩa, có ý thức “nâng cao giá trị đời sống của mình’’ bằng một sự nghiệp lao động nghệ thuật nghiêm túc, có ích cho cuộc đời và được cuộc đời công nhận, nhưng rút cuộc, lại phải sống như một kẻ vô ích, một người thừa.

b. Bi kịch đời sống (bi kịch của một con người).

Trong tâm trạng đau khổ dai dẳng vì cứ phải sống cuộc đời thừa, Hộ còn rơi vào một bi kịch thứ hai cũng đau đớn không kém. Đó là bi kịch của con người coi tình thương là nguyên tắc sống cao nhất, hi sinh tất cả cho tình thương, nhưn lại cứ phải sống tàn nhẫn, thô bạo, gây khổ cho vợ con, chà đạp lên nguyên tắc tình thương đó của mình.

– Hộ vốn là một con người nhân hậu, tôn thờ lẽ sống của tình thương. Với Hộ, tình thương là tiêu chuẩn cao nhất để xác định tư cách làm người, không có tình thương thì con người chỉ là một thứ quái vật.

+ Vì lí tưởng cao đẹp ấy, Hộ đã cúi xuống cứu vớt nỗi khổ của Từ, cưu mang mẹ con Từ.

+ Và từ khi có một gia đình, anh đã dám hi sinh hoài bão văn chương của mình để làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người cha. Anh đã dẫm lên sự nghiệp của mình để giữ lấy tình thương.

+ Hộ rất yêu thương vợ con. Đi đâu xa vài hôm, anh đã nhớ bọn trẻ và vui sướng khi trở về gặp lại chúng. Những khi Từ ốm, Hộ thức đến xanh cả mắt để lo lắng cho Từ. Một người đã biết yêu thương và tôn thờ lẽ sống của tình thương như Hộ thì không thể bỏ mặc vợ con. Có lúc anh đã nghĩ đến thoát li gia đình để theo đuổi sự nghiệp, anh đã nghĩ đến câu nói của một triết gia phương Tây nọ: “Phải biếc ác, biết tàn nhẫn để sống cho mãnh mẽ’’. Nhưng rồi anh lại nghĩ: “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thõa mãn lòng ích kẻ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình’’. Và anh đã hành động theo tiếng nói của tình thương.

– Có điều, phải từ bỏ hoài bão nghệ thuật, Hộ không trốn tránh được nỗi đau khổ âm thầm khiến anh buồn u uất, bực dọc, nhất là những khi gặp bạn văn, giấc mộng văn chương lại được khơi dậy. Còn gia đình, thì anh dù đã cố gắng hết sức vẫn cứ túng quẫn. Những điều ấy khiến Hộ đau khổ và anh đã tìm đến rượu để giải sầu.

+ Nhưng rượu càng nung nấu thêm nỗi khổ sở tuyệt vọng của anh. Trong cơn say, anh đã trút nỗi uất ức vào vợ con mà anh tưởng là nguyên nhân trực tiếp của tình cảnh bế tắc của anh. Thế là con người nhân ái đó đã đối xử phủ phàng, gây khổ cho người vợ “rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm’’, người vợ yếu đuối cần được anh che chở và đang khổ sở không kém gì anh.

+ Khi tỉnh rượu, nhớ lại hành vi thô bạo tồi tệ của mình, Hộ hối hận vô cùng. Những lần phạm tội của anh, lần sau nặng hơn lần trước và những cơn hối hận của anh, lần sau cũng đau đớn hơn lần trước. Ở lần cuối cùng được kể trong tác phẩm, anh đã khóc, “khóc nức nở’’ và tự sỉ vả mình là “một thằng khốn nạn’’.

c. Hộ không thể giải quyết cả hai bi kịch ấy cho nên muốn sống có hoài bão thì lại phải sống vô nghĩa như một người thừa ; đành hi sinh sự nghiệp để giữ lấy tình thương, để dù sao cũng còn được là người thì lại chà đạp lên tình thương. Rốt cuộc, cả lí tưởng văn chương và lẽ sống tình thương, anh đều không giữ được.

3. Kết bài

Xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của người trí thức, tác phẩm toát lên lời kết án cái xã hội nặng nề ngột ngạt đương thời đã tước đoạt giá trị, ý nghĩa sự sống và đầu độc tâm hồn, phá hoại nhân cách con người, không cho con người được sống cuộc sống tử tế xứng đáng là cuộc sống con người. Đối với người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống, về đạo lí làm người, thì đó là tấn bi kịch tinh thần đau đớn vô cùng.

Theo Baivanhay.com

[ad_2]

Leave a Comment