Phân tích giọng văn của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai Đứa Trẻ

[ad_1]

Phân tích giọng văn của Thạch Lam trong truyện ngắn Hai Đứa Trẻ

Hướng dẫn

Đề bài: Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, khi con tàu đã rời ga phố huyện, Thạch Lam viết:

“Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đổi với Liên, khác hẳn với vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và im lặng.”

Phân tích đoạn văn trên từ đó kết hợp với sự hiểu biết truyện “Hai đứa trẻ”, nêu chủ đề của tác phẩm và nhận xét giọng văn của Thạch Lam.

Yêu cầu: Qua việc phân tích nội dung và nghệ thuật đoạn văn, mở rộng ra toàn tác phẩm, nêu lên rõ chủ đề của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” và giọng văn của Thạch Lam.

Bài làm:

Đọc “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam không ai quên đó là một loại truyện không có truyện nhưng lại giàu sức gợi. Không ai quên có một cô bé Liên đảm đang, dịu đàng và cũng đầy mộng mơ, mong ước, không ai quên những đêm khuya trên sân ga phố huyện Liên cùng em đứng chờ những chuyến tàu để mơ tưởng khi chuyến tàu đã “vụt qua”.

“Liên lặng theo mơ tưởng, Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Hà Nội thật sôi động. Đó là Hà Nội trong kí ức tuổi thơ; Hà Nội của những kỷ niệm trong Liên mà đã bấy lâu nay Liên thiết tha muốn được sống lại những ngày xưa hạnh phúc ấy dù chỉ trong khoảnh khắc theo dòng mơ tưởng về Hà Nội. Sống ở phố huyện yên tĩnh, lặng lẽ này, một người con gái có cuộc sống nội tại mạnh mẽ và sôi nổỉ như Liên cảm thấy rất buồn. Đôi mắt chị bóng tối ngập dần dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn thơ ngây của chị. Có lẽ vì vậy mà đêm nào Liên cũng đợi tàu ở Hà Nội về một cách tự giác như một thói quen khó dứt bỏ. Chị muốn hưởng một chút cái náo nức, vui vui mà đoàn tàu như chở cả thế giới phồn hoa đô hội qua phố huyện nghèo nơi chị đang sống. Chị khao khát ánh sáng và sự hoạt động biết bao! Và chỉ có sự háo hức đợi tàu mỗi đêm là có thể giải thoát chị khỏi nỗi buồn lặng lẽ. “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua” – thế giới của đô thành sôi động, sầm uất vang dội đủ thứ âm thanh của cuộc sống đời thường trong Liên. Chỉ cần “một chút” – “một chút” thế thôi là Liên cũng cũng cảm thấy lòng mình rộn rã hẳn. Chị thấy “thanh thản”, niềm vui nhè nhẹ khẽ len vào lòng.

“Liên sống giữa bao nhiêu sự xa xôi”. Thế giới thực tại của Liên là phố huyện “tịch mịch”, tĩnh lặng, buồn tẽ, ít trở mình. Nó càng tịch mịch, tĩnh lặng hơn khi con tàu đã vút qua chấm dứt mọi sự hoạt động của một ngày tẻ nhạt. Một thế giới mờ mịt, “đầy bóng tối”, chỉ le lói vài vầng sáng hắt ra từ những ngọn đèn tù mù, bầy đom đóm nhấp nháy, những chòm sao xa tít tắp… Trong truyện, nhiều lần Thạch Lam nhắc đến ánh sáng trên cái nền của bóng tối. Đó là cuộc đấu tranh thực sự giữa ánh sáng và bóng tối mà ánh sáng chỉ như một viên đá ném vào giữa cái ao lớn là bóng tối. Mặt ao chỉ khẽ xao động rồi lại yên lặng như cũ cũng như ánh sáng không thể át đi bóng tối rợn ngợp bao trùm. Thế giới thực tại đó của Liên cũng là thế giới khác hẳn với với thế giới mà đoàn tàu đã chở qua phố huyện mỗi đêm. Đoàn tàu vụt nhanh trong đêm tối, “các toa đèn sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng lô” nhô’ những người đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng”. Không như phố huyện “quê mùa” ngày ngày lặng lẽ, thế giới đô thành đầy ắp ánh sáng, sang trọng và đông vui nhộn nhịp. Nhìn theo đoàn tàu nhìn theo ánh sáng mang hơi thở của Hà thành, Liên biết bao xao xuyến, rạo rực. Ánh sáng ấy vút qua bừng lêr khoảnh khắc trong mắt Liên, đưa Liên vào cõi “mơ tưởng”. Liên nghĩ về quá khứ, nghĩ về tương lai và nghĩ về hiện tại Quá khứ tuổi thơ sông hạnh phúc giữa đất Hà Nội huyên náo qua lâu rồi. Tương lai thì mờ mịt. Và hiện tại đầy bóng tối. Cuộc sông thật tẻ nhạt và đáng buồn… Con tàu vụt qua, “đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia; đồng ruộng mênh mang và yên lặng”. “Cả phố huyện bấy giờ mới thật là hết náo động”. Chuyến tàu “đi qua phô’ huyện” là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Đêm tối đối với Liên đã “quen” lắm rồi, nhưng Liên vẫn khao khát được thấy ánh sáng, được sống giữa ánh sáng ngập tràn và nhất là được sông trong không khí sôi động, náo nhiệt. Bởi Liên không phải là người dễ dàng chấp nhận số phận. Chị cũng có bao ước mơ và hơn hết, chị còn có một sức sống nội tại mãnh liệt, sôi nổi. Sống giữa phố huyện yên lặng, vắng vẻ mà tâm hồn chị không yên lặng chút nào. Trong chị dường như luôn có những con sóng ngầm cồn cào, dữ dội. Đó là những khao khát, những ước vọng được sống một cuộc sống mới mà ở đó có ánh sáng và âm thanh chứ chị không muốn an phận nơi đất quê ẩm mốc, nơi phố huyện nhỏ bé, thưa thớt này.

Trong dòng “mơ tưởng”, tâm trạng Liên buồn vui lẫn lộn trước những gì thuộc về quá vãng, trước hiện tại đáng buồn và hướng về một tương lai lờ mờ ảo ảo, mơ hồ, xa xôi… Thạch Lam đã dẫn dắt câu truyện đi theo mạch nội tâm nhân vật khiến người đọc có cảm giác dịu êm lan tỏa. Ông đi sâu vào miêu tả tâm trạng, cuộc sống nội tâm nhân vật; ông nâng niu trân trọng những ước mơ đổi thay cuộc sống như ước mơ của Liên và cả của An – em Liên – của bao người dân phố huyện bình lặng ấy nữa, dù chỉ là ước mơ nhỏ bé nhất. Chừng nào cuộc sống còn lắm ước mơ, con người còn ước mơ đổi thay cuốc sống thì chừng đó cuộc sống còn đẹp và con người còn được đáng trân trọng.

Với “Hai đứa trẻ” Thạch Lam đã nói về cuộc sống chìm trong bóng tối và niềm khát khao vươn tới ánh sáng của những kiếp người nhỏ bé tội nghiệp ở một miền quê nơi phố huyện nghèo. Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc đầy chất trí tuệ của Thạch Lam biểu hiện qua giọng văn ngọt nhẹ, thấm thía với một lời khuyên chân thành, đầy tính nhân văn. Dù cuộc sống tối tăm đến đâu cũng đừng đánh mất đi ước mơ đổi thay cuộc sống. Tư tưởng hướng về cuộc đời đổi thay và hiểu cuộc đời còn nhiều ý nghĩa đáng để người ta sống của Thạch Lam đã gặp gỡ và đồng điệu với tư tưởng, tâm hồn của những người như Nam Cao, Xuân Diệu cùng thời. Nhưng nếu như Nam Cao nói về khát vọng ấy của khiếp người nhỏ bé tội nghiệp thông qua sự tố cáo, lên án mạnh mẽ xã hội thực dân phong kiến thì Thạch Lam lại đi sâu vào phân tích nội tâm nhân vật để thấy được sự lặng lẽ của kiếp người đó quanh năm chỉ biết có bóng tối cùng nỗi buồn nhạt nhẽo, tẻ ngắt bủa vây lấy đời mình khiến người đọc càng thấm thía nỗi xót xa hơn. Đó chính là nét mới trong tư tưởng nhân văn cũng như trong nghệ thuật viết truyện của Thạch Lam. Còn so với “Tỏa nhị Kiều” của Xuân Diệu, “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam có sự gặp gỡ ở điểm: cùng nói về cuộc sống nhạt nhẽo, vô vị triền miên trong bóng tối của những con người tội nghiệp đáng thương, đồng thời phản ánh niềm khao khát của nhân vật, của chính tác giả về một cuộc sống có ý nghĩa, có hạnh phúc.

Trải suốt trong “Hai đứa trẻ” là giọng văn nhẹ nhàng gợi một không gian vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng giọng văn thủ thỉ, trữ tình đằm thắm, thiết tha, gợi mở trong tâm hồn người đọc những rung động êm dịu tinh tế, chứa chan tình người, tình đời của Thạch Lam. Giọng văn ấy đặc biệt thể hiện rõ qua đoạn trích nói về sự “mơ tưởng” của Liên khi đoàn tàu từ Hà Nội về vút qua sân ga phố huyện nhỏ bé, buồn tẻ – nơi Liên và em gái đang sống. Và một điểm nữa người ta không thể không nhắc đến khi đọc truyện Thạch Lam đó là chất thơ tạo tính hàm súc cho truyện của ông. Đoạn trích nói về dòng “mơ tưởng” của Liên là một đoạn như thế. Tác giả đã dùng các phép lặp để tạo sự nhịp nhàng, ấn tượng, rất riêng cho văn mình. “Hà Nội” phồn hoa hiện lên trong Liên rất rõ, rất lâu, lắng trong Liên bao cảm xúc về một thời đã qua; “thế giới khác” mà con tàu chở qua bừng lên trong ánh mắt Liên ánh sáng của “thế giới khác” và của thế giới phố huyện Liên đang sống nối tiếp nhau hiện về trong dòng mơ tưởng của Liên; và “đêm” mênh mông rợn ngợp trùm lên tất cả… Những hình ảnh đó cứ trùng điệp nối tiếp nhau nhịp nhàng như những lớp sóng khiến câu văn Thạch Lam lúc nhẹ nhàng lúc lan tỏa, lúc dồn nén… Có lẽ vì vậy mà “câu văn Thạch Lam cứ như câu văn của hôm nay” (Phong Lê), “trẻ rất dai, mới rất lâu” (Phạm Văn Phúc).

Và mỗi khi nhắc đến “Hai đứa trẻ” sẽ chẳng bao giờ người ta có thể quên Thạch Lam như có dùng nghệ thuật dựng cảnh của điện ảnh để tạo nét thực – ảo đan xen trong quá trình dựng hình ảnh “Liên lặng lẽ theo mở tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đem một chút thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí, và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”

Bài văn số 2: Phân tích truyện ngắn 2 đứa trẻ của Thạch Lam

Truyện của Thạch Lam không có chuyện. Truyện “Hai đứa trẻ” cũng vậy. Chỉ có hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hoàng hôn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ. Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp. “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống. Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hoài bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngôn ngữ của ông có thể ví với tranh lụa chứ không phải sơn dầu. Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp.

Trong “Hai đứa trẻ” chất lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau hiện ra trong bức tranh thiên nhiên của một vùng quê vào một buổi chiều ả. Rồi màn đêm dần dần buông xuống “Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…” thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng và thơ mộng. “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Nhưng làng quê thì đầy bóng tối, thảm hại. “Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve”. “Đôi mắt Liên, bóng tối ngập đầy dần”. “Chỉ thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”. Chính bức tranh đời sống rất mực chân thật vừa thấm đượm cảm xúc chữ tình này đã gây nên cảm giác buồn thương day cho người đọc. Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu toát ra từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo.

Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện hiện lên thật là cụ thể, sinh động, gợi cảm. Đó là cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ đã vãn từ lâu. “Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”. Cảnh chợ tàn phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện. Ống kính cần mẫn của nhà văn lia qua phố huyện: trên đất chỉ còn “rác rưởi, bỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. Cảnh còn được miêu tả bởi khứu giác tinh tế của nhà văn “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Bức tranh phố huyện trong “Hai đứa trẻ” đầy sức ám ảnh là vì những màu sắc và hương vị như thế.

Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đó, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra. Những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ rơi vãi ở bãi chợ. Mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng xách điếu đóm ra dọn hàng, “ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này…”. Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt”. Thằng con bò ra đất nghịch nhặt rác bẩn bên đường. Và hai chị em Liên với cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê vì thầy Liên mất việc. Bà cụ Thi điên điên tàng tàng mua rượu uống và cười “khanh khách” lảo đảo đi vào bóng tối. Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ. Qua con mắt của bé Liên, tất cả cuộc sống chìm trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên… tức chỉ là mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối mịt mù dầy đặc mà thôi. “Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ ấy trở đi trở lại tới bẩy lần trong huyện là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.

Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại.

 

Chiều tối nào mẹ con chị Tí cũng lễ mễ dọn hàng, chị em Liên lại kiểm hàng rồi tính tiền, rồi ngồi trên chõng tre ngắm cảnh. Bác phở Siêu lại gánh hàng và thổi lửa, bác Xẩm lại trải chiếu, đặt thau. Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ. Họ cũng lóe lên một chút hi vọng. Hi vọng là liều thuốc an thần cho những con người khốn khổ ấy. Nhất Linh cũng từng nói những người dân quê rất nghèo khổ tiền bạc nhưng rất giàu hi vọng hão “chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.

Hai đứa trẻ làm sao ý thức rõ rệt được cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình. Song với tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, cô bé Liên cảm nhận thấm thía tuy chỉ là vô thức hiện thực đó, khát vọng đó. Chính vì khao khát được thoát khỏi cảnh tù đọng mù tối ấy mà chị em Liên đêm đêm cố thức đợi chuyến tàu đi qua. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.

“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai cấp. Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức, vì nói cho cũng Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn. Ông phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của nó. Bức tranh làng quê mù xám với những con người nhỏ nhoi đáng thương ấy thấm đẫm niềm cảm thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh bế tắc, tối tăm. Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con người bé nhỏ với chút hi vọng le lói, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn là muốn thay đổi cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ.

Theo Baivanhay.com

[ad_2]

Leave a Comment