“Sống thật với chính mình” là lời khuyên kinh khủng

[ad_1]

Tôi dịch từ bài viết “Trừ khi bạn là Oprah, ‘Hãy là chính mình’ là lời khuyên khủng khiếpcủa Adam Grant cho Thời báo New York. Adam Grant là nhà tâm lý học người Mỹ, tác giả viết sách, hiện là giáo sư tại Đại học Wharton danh tiếng. Ông chuyên nghiên cứu về hành vi tổ chức với mục tiêu giúp mọi người tìm thấy ý nghĩa và động lực trong công việc. Bạn có thể xem bài viết gốc của anh ấy cũng như các bài viết khác cho NYT tại >>> https://www.nytimes.com/column/adam-grant
Chân dung tác giả. Minh họa: Nigel Buchanan

Nó giống như cuộc nói chuyện lớn nhất trong đời tôi – lần đầu tiên đứng trên sân khấu lớn của Hội nghị TED. Thảo nào tôi đã xé 7 bản nháp rồi. Vì muốn tìm một hướng đi khác, tôi đã thử hỏi ý kiến ​​của đồng nghiệp và bạn bè. “Điều quan trọng nhất,” người đầu tiên nói, “là chính bạn.” Sáu người tiếp theo cũng cho tôi lời khuyên tương tự.

Chúng ta đang ở trong Thời đại của sự chân thực, nơi “hãy là chính mình” là mẫu mực của lời khuyên cho cuộc sống, tình yêu và sự nghiệp. Trở thành hiện thực có nghĩa là làm mờ ranh giới giữa những gì bạn tin tưởng bên trong và những gì bạn bộc lộ ra bên ngoài. Giáo sư nghiên cứu Brené Brown của Đại học Houston định nghĩa cuộc sống thực là “cho mọi người thấy con người thật của bạn”.

Chúng ta muốn cuộc sống của mình “thật”, cưới một người bạn đời “thật”, làm việc cho ông chủ “sống thật”, bầu một tổng thống “thật”. Trong bài phát biểu khai mạc đại học, “sống thật với chính mình” là một trong những chủ đề phổ biến nhất (chỉ đứng sau “Mở rộng tầm nhìn của bạn” và ngay trước “Đừng bỏ cuộc”).

Cách đây vài năm, Oprah Winfrey đã nói đùa: “Tôi không biết là tôi có thể giúp bạn trở nên giàu có như bây giờ. “Nếu tôi biết điều đó, tôi đã thử nó sớm hơn.”

Nhưng đối với hầu hết mọi người, “hãy là chính mình” là một lời khuyên khủng khiếp.

Cho phép tôi được “thật” một chút: Không ai muốn nhìn thấy con người thật của bạn. Tất cả chúng ta đều có những suy nghĩ và cảm xúc làm nền tảng cho cuộc sống của mình, nhưng chúng tốt hơn là không được tiết lộ.

Khoảng 10 năm trước, tác giả AJJacobs đã cố gắng trở thành thật 100% trong vài tuần. Anh ấy đã tuyên bố với một biên tập viên rằng anh ấy sẽ thử chịch cô ấy nếu anh ấy còn độc thân. Anh ấy nói với bảo mẫu rằng anh ấy muốn hẹn hò với cô ấy nếu anh ấy bị vợ bỏ. Anh ấy nói với cô con gái 5 tuổi của bạn mình rằng con bọ trên tay cô ấy không phải đang ngủ. Anh nói với những người họ hàng của vợ rằng những điều họ thảo luận thật nhàm chán. Bạn có hình dung được kết quả của thí nghiệm này không?

Jacobs kết luận: “Sự lừa dối giữ cho thế giới tiếp tục hoạt động. “Nếu bạn không nói dối, hôn nhân sẽ đổ vỡ, nhân viên sẽ bị sa thải, cái tôi sẽ sụp đổ, chính phủ sẽ sụp đổ.”


Đọc thêm:

Mức độ “sống thật” của mỗi người sẽ phụ thuộc vào một nét tính cách gọi là tự giám sát. Nếu bạn là người tự giám sát nhiều, bạn sẽ luôn tìm kiếm các tín hiệu giao tiếp xung quanh và điều chỉnh cho phù hợp. Bạn không thích những tình huống khó xử và cố gắng tránh làm mất lòng bất kỳ ai.

Ngược lại, nếu bạn ít tự giám sát, bạn sẽ hướng nội nhiều hơn trong mọi tình huống. Theo một nghiên cứu hấp dẫn, khi một miếng bít tết được mang ra, những người càng tự giác nếm nó trước khi rắc muối, trong khi những người ít tự kiểm soát hơn thì rắc muối trước. Nhà tâm lý học Brian Little giải thích “Dường như những người ít tự giám sát bản thân hiểu rất rõ đặc điểm ăn mặn của mình”.

Những người ít tự giám sát hoặc chỉ trích những người tự giám sát nhiều hơn là tắc kè hoa và tắc kè hoa. Đúng là sống thật thì cũng phải đúng hoàn cảnh, đúng thời điểm. Một số nghiên cứu chuẩn bị cho thấy những người ít tự giám sát hơn có hôn nhân hạnh phúc hơn và tỷ lệ ly hôn thấp hơn. Bên cạnh đối tác của bạn, việc sống thật có thể tạo nên một mối quan hệ bền chặt hơn (trừ khi tên bạn là AJJacobs).

Nhưng trong phần còn lại của cuộc đời tôi, Sống quá sẽ phải trả giá. Những người tự giám sát thăng tiến nhanh hơn và đạt được địa vị cao hơn, một phần vì họ quan tâm rất nhiều đến danh tiếng của mình. Mặc dù điều đó có vẻ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự đề cao bản thân, nhưng những người biết tự giám sát thường dành thời gian để ý xem người khác cần giúp đỡ điều gì. Trong một phân tích toàn diện về kết quả từ 136 nghiên cứu liên quan đến 23.000 nhân viên, những người tự giám sát nhiều hơn nhận được xếp hạng cao hơn rõ rệt và có nhiều khả năng được thăng chức lên các vị trí lãnh đạo.

Điều thú vị là phụ nữ ít có khả năng tự kiểm soát bản thân hơn nam giới, có lẽ vì phụ nữ phải đối mặt với nhiều áp lực văn hóa hơn trong việc thể hiện cảm xúc của mình. Đáng buồn thay, do đó, họ có nguy cơ bị coi là yếu kém hoặc không chuyên nghiệp. Khi Cynthia Danaher được thăng chức làm Tổng Giám đốc của Tập đoàn Hewlett-Packard, bà đã thông báo với 5.300 nhân viên của mình rằng công việc này thật “đáng sợ” và “Tôi cần sự giúp đỡ của các bạn”. Cô ấy thực sự còn sống, và đội của cô ấy đã tự tin cất cánh. Một số nhà nghiên cứu thậm chí còn cho rằng việc ít tự kiểm soát bản thân có thể có tác động tiêu cực đến con đường sự nghiệp của phụ nữ.

Tuy nhiên, rất nhiều người tự giám sát cũng phải chịu “tổn thương” từ niềm tin thực tế. Vì cho rằng có bản ngã, là nền tảng tạo nên nhân cách của mỗi người, được tạo nên từ niềm tin và khả năng của mỗi cá nhân. Như nhà tâm lý học Carol Dweck đã chỉ ra từ lâu, chỉ tin vào một bản ngã cứng nhắc có thể cản trở sự phát triển cá nhân.

Những đứa trẻ coi khả năng là bất biến sẽ bỏ cuộc khi chúng thất bại; Những nhà quản lý tin rằng tài năng là bất biến sẽ không thể đào tạo nhân viên. Herminia Ibarra, giáo sư tại Trường Kinh doanh Insead, lưu ý: “Khi cố gắng đạt được tiến bộ, ý thức rõ ràng và vững chắc về bản thân là kim chỉ nam giúp chúng ta định hướng các lựa chọn và hướng tới mục tiêu của mình. quan niệm về bản thân trở thành chiếc mỏ neo giữ chúng ta chèo thuyền.”

Nếu không phải là cái tôi “thật” thì chúng ta phấn đấu để làm gì? Nhiều thế kỷ trước, nhà phê bình văn học Lionel Trilling đã cho chúng ta một câu trả lời nghe có vẻ lỗi thời đối với những đôi tai “đời thực”: sự chân thành. Thay vì tìm kiếm con người bên trong và cố gắng hết sức để thể hiện nó, Trilling khuyến khích mọi người bắt đầu với con người bên ngoài. Hãy chú ý đến cách chúng ta thể hiện bản thân với người khác, và sau đó cố gắng trở thành con người của chúng ta.

Thay vì thay đổi từ bên trong ra bên ngoài, bạn mang bên ngoài vào.


Đọc thêm:

Khi Tiến sĩ Ibarra nghiên cứu các cố vấn và chủ ngân hàng đầu tư, bà phát hiện ra rằng những người có khả năng tự giám sát cao có xu hướng thử nghiệm nhiều phong cách lãnh đạo hơn so với “đồng nghiệp ngoài đời thực” của họ. Họ quan sát các nhà lãnh đạo cấp cao trong tổ chức, mượn cách giao tiếp và hành động của họ, sau đó thực hành cho đến khi nó trở thành bản chất thứ hai. Họ không có thật, nhưng họ chân thành. Nó làm cho nó thậm chí còn hiệu quả hơn.

Quá trình chuyển đổi từ thực tế sang trung thực có lẽ đặc biệt quan trọng đối với thế hệ thiên niên kỷ. Sự khác biệt về thế hệ hầu hết được cường điệu hóa – những khác biệt đó chủ yếu là do tuổi tác và sự trưởng thành, chứ không phải năm sinh của bạn. Mặt khác, một phát hiện quan trọng là các thế hệ trẻ thường ít chú ý đến những gì xã hội chấp nhận. Thể hiện con người thật của bạn sẽ rất hiệu quả cho đến khi nhà tuyển dụng xem hồ sơ của bạn trên mạng xã hội.

Là một người hướng nội, khi mới bắt đầu sự nghiệp, tôi cực kỳ sợ nói trước đám đông. Con người thật của tôi chắc còn lâu mới diễn thuyết trên TED. Nhưng là một người đam mê chia sẻ kiến ​​thức, tôi đã dành cả thập kỷ tiếp theo để học cái mà Tiến sĩ/nhà tâm lý học Little gọi là hành vi thiếu tôn trọng. Tôi quyết định trở thành người mà tôi gọi cho chính mình, người không ngại bị chú ý.

Và nó thực sự hoạt động. Lần tới nếu ai đó nói “hãy cứ là chính mình”, hãy ngăn người đó lại. Không ai muốn nghe mọi thứ trong đầu bạn. Họ chỉ muốn bạn sống như bạn nói.

[ad_2]

Leave a Comment