SỰ THẬT VÀ VĂN HỌC


SỰ THẬT VÀ VĂN HỌC

Văn học và cuộc sống luôn gắn liền với nhau như hình với bóng. Các nhà nghiên cứu văn học và học sinh phổ thông muốn hiểu văn học cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời của mỗi tác phẩm mới hiểu sâu ý đồ tác giả và tầm vóc đích thực của tác phẩm. đi ra ngoài.

Tuy nhiên, văn học phản ánh cuộc sống nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào thể chế dân chủ và tự do ngôn luận của chế độ đó có tốt hay không.

Nhiều tác phẩm phải mất hàng thế kỷ mới có kết quả. Ví dụ, trong thời phong kiến, chỉ khi một triều đại nào đó bị sụp đổ hoàn toàn thì sự thật về triều đại đó mới được nói ra một cách công bằng. Cũng như Thủy Hử, Tam Quốc, Đông Chu liệt… ra đời vào thời Minh, Thanh nhưng nội dung kể về một kiếp cách xa hàng trăm thế kỷ. Vậy mà khi đọc Thủy Hử, vua Nguyên còn tống Thi Nại Am vào ngục vì khen ngợi đạo tặc Lương Sơn (thời Tống Huy Tông).

Có những tác phẩm có thể phản ánh ngay đời sống xã hội. Như ở Mỹ chẳng hạn. Xã hội xấu ra sao, chính trị lộn xộn ra sao, văn chương, báo chí thế nào viết ra là chê ngay, chê hay khen ngay. Kể cả Tổng thống hay cha của Tổng thống.

Hôm nay tôi muốn chia sẻ những sự thật thú vị về văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa luôn hướng đến sự giác ngộ với ý thức dân tộc, ý thức giai cấp trong tiểu thuyết của trào lưu Hiện thực phê phán. Họ cố tình quên đề cập đến vấn đề thời sự khi tác phẩm ra đời. Họ lờ đi, bỏ qua điều quan trọng hơn trong nghề viết: Đó là khuynh hướng thẩm mỹ và phong cách của mỗi người viết. Nghĩa là, nhà văn viết về một cái gì đó cũng giống như chọn món trong một bữa tiệc buffet, người thích món này, người thích món khác. Nguyên nhân sâu xa nhất, giới bình luận văn học của ta xưa nay mắc bệnh giai cấp. Mỗi lần ngồi phân tích tác giả, tác phẩm, các giáo sư lại lấy một thẻ Đảng viên to tướng đeo vào cổ rồi mới bắt đầu mổ xẻ.

Các tác phẩm như Số đỏ, Giông tố, Bước cuối cùng, Tắt đèn, Vỡ đê, Kép Tư Bền, Dế Mèn phiêu lưu ký… ra đời trong bối cảnh thuận lợi: Phong trào Bình dân và Đảng Xã hội Pháp thắng thế ở châu Âu. Chính phủ Pháp vì thế có xu hướng ưu ái người nghèo nên đã thi hành những chính sách cởi mở hơn với nông dân và công nhân các nước thuộc địa. Đặc biệt là báo chí và tự do ngôn luận. Độc giả bây giờ nên tìm hiểu lịch sử để biết vì sao văn chương ta thời đó thư thái và sinh động như vậy.

Vũ Trọng Phụng phóng bút hơn cả. Vì thích chế giễu và tài năng khám phá những tình tiết hài hước, anh ta có đất để sống tốt. Chỉ trong hai năm, anh đã đóng năm cuốn tiểu thuyết, chưa kể vô số bài báo, tiểu luận và phóng sự. Kinh khủng chưa? Tất cả đều mang màu sắc bôi nhọ để đả kích những tệ nạn của giới thượng lưu. Nó cũng bôi nhọ nông dân và tất cả các giới tính khác trong xã hội. Trong mắt anh, hạ lưu hay thượng lưu chẳng là gì cả. Cả xã hội là một vở hài kịch. Anh ta lớn tiếng chế giễu sự ngu xuẩn và dâm đãng của xã hội đồng tiền. Ngay cả khi đọc Vũ Trọng Phụng, người ta cũng bắt gặp những trang miêu tả khí chất con người đầy nhục dục, thô bạo và trần trụi.

Chỉ ở giai đoạn này, các nhà văn của chúng tôi mới được phép tự do sử dụng một chế độ như vậy. Cũng lạ. Người Pháp đã in, thậm chí dịch sang tiếng Pháp một số truyện. Sau này tôi mới hiểu nguyên nhân là ở Pháp luôn có hai nhóm chính trị X và Y chống đối nhau. Nếu bạn tán tỉnh X, thì Y yêu bạn. Nếu bạn tán tỉnh Y, thì X thích bạn. Chuyện gì cũng có thể, miễn là khôn ngoan một chút.

Cầm lá cờ bình dân trong tay, các văn nhân của ta lúc bấy giờ đã đủ sức lấn lướt chính quyền thực dân phong kiến. Viết thoải mái. Hoa đang nở. Văn học thời kì này phát triển rất nhanh. Có lẽ sôi nổi nhất và thành công nhất trong suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại.

Giai đoạn sau, khi Đảng Xã hội Pháp (chủ trương bình dân) mất quyền lãnh đạo, văn học không còn viết về bình dân nữa. Các phong trào yêu nước đòi cải cách dân chủ càng bị đàn áp gắt gao hơn. Các nhà văn của chúng ta cũng đang hoảng loạn, chạy đôn chạy đáo tìm đề tài mới để nương tựa.

Chẳng hạn, Nguyễn Tuân hướng đến ma, rượu, đèn bàn, thuốc phiện (Thùng đồng càng cua, Bệnh rượu, Chùa Đàn…). Nguyễn Công Hoan quay sang viết Lá vàng, một tiểu thuyết lãng mạn về tình yêu không hợp với phong cách của ông chút nào. Họ làm để trốn đời cũng như để đổi gió. Vũ Trọng Phụng đã mất. Nam Cao đã đi sâu phân tích thế giới tự nhiên bí mật của con người như Sunavia, Rình rập, Cái móng guốc… Đây đều là những đề tài vô thưởng vô phạt. Không ai muốn viết về nông dân và thường dân nữa vì không có tờ báo nào đăng chúng.

Nhân đây cũng xin nói một chút về tính cách người viết để các bạn trẻ hiểu hơn.

Nhà văn cũng là con người nên họ cũng có những thói hư tật xấu như những người bình thường chúng ta. Họ cũng sợ chết, ham sống. Họ cũng có cái này cái kia như đĩ điếm, hút chích, nói tục, chửi bậy. Họ chỉ khác chúng ta ở chỗ họ làm nghề viết lách. Nhưng nhà văn cầm bút cũng giống như người nông dân cầm cày và người thợ rèn cầm búa. Đầu tiên, họ đi làm để kiếm tiền. Tuy nhiên, trong nghề nào cũng có người thấp kém, người tầm thường và người vĩ đại. Có những bác sĩ vĩ đại, những nhà khoa học vĩ đại, những chính trị gia vĩ đại, những nông dân vĩ đại, và tất nhiên có những nhà văn và nhà thơ vĩ đại.

Nhiều bạn mắc bệnh thần thánh hóa nhà văn. Họ nghĩ rằng một nhà văn phải yêu nước điên cuồng hoặc trong sạch như Chúa Giêsu. Quan niệm này rất sai lầm.

Xưa nay, các nhà phê bình văn học sau này luôn ca tụng những người viết theo khuynh hướng tả khuynh xã hội mà thời kỳ trước cách mạng chúng ta gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán. Người ta thường cho rằng những nhà văn này “có lập trường giai cấp đúng đắn, bênh vực giai cấp công nhân, đứng về phía người nghèo. Chỉ cần được Đảng giác ngộ thêm một chút nữa, họ sẽ trở thành Đảng viên ưu tú vì họ rất gần gũi với người nghèo”. . Đó là bữa tiệc.”

Lấy Nguyễn Công Hoan làm ví dụ. Các nhà bình luận của ta sau này không ngừng ca ngợi Nguyễn Công Hoan là một nhân vật yêu nước, có ý thức giai cấp và đấu tranh cho giai cấp công nhân. Nhưng bản thân anh cũng cười khúc khích và thẳng thắn nói rằng anh không có lập trường chết tiệt nào. Viết những gì bạn thích. Cái nào hay thì viết. Anh không có lập trường nào cả. Bản thân anh cũng không hiểu lập trường nghĩa là gì.

Theo Nguyễn Công Hoan, mỗi nhà văn có một gu riêng. Có người thích chọc cười xã hội, có người thích nhìn cuộc đời qua lăng kính màu hồng lãng mạn, có người thích khai thác đề tài yêu đương, có người đam mê đề tài ăn chơi trác táng. Họ viết theo sở thích riêng chứ không có chiều sâu, ghê gớm như người ta tưởng.

Có một sự thật này ai cũng phải công nhận: Người Việt Nam ai cũng biết yêu Tổ quốc và đau lòng vì cảnh nước mất nhà tan. Những người như Nhất Linh, Hoàng Đạo cũng đau lòng vì cảnh nước mất nhà tan. Ngay cả những người quét rác, những người ăn xin, họ cũng khổ sở vì mất nước. Nhưng mỗi người có một phong cách yêu nước riêng và yêu nước ở những mức độ khác nhau. Có người lên tiếng và hành động mạnh mẽ, nhưng cũng có người im lặng, đêm về chỉ biết khóc thầm với chăn gối. Ngay cả sự phấn đấu và cống hiến cho sự phát triển của dân tộc cũng có những con đường khác nhau. Phải chăng hễ ai đứng ra chống thực dân phong kiến, cổ động đấu tranh bạo lực cách mạng đều là yêu nước?

Đáng tiếc là các nhà phê bình văn học sau này chỉ chú trọng và ca ngợi dòng Hiện thực phê phán (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao…) và dòng văn học Cách mạng (Tố Hữu, Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Xuân Thủy..). .) mà bỏ qua những giá trị cao quý khác.

Leave a Comment