Thơ của Lũ người quỷ ám


Khủng bố (một lần nữa) tấn công châu Âu. Nghi phạm là (một lần nữa) một tổ chức khủng bố Hồi giáo. Đó chỉ là cái cớ để tôi kể một câu chuyện khác về họ.

Người Hazara, một tộc người ở miền trung Afghanistan, có một thành ngữ: tang amad, dar jang amad, dịch sang tiếng Anh là Kẻ nào bị dồn vào đường cùng thì phải chiến đấu, đại khái tiếng Việt bạn có thể hiểu là: Con sâu cũng quằn quại.

Tháng 8 năm 1998, Taliban chiếm được Mazar-e-Sharif, đồng nghĩa với việc người Hazara chính thức đầu hàng. Chỉ 3 năm sau, Taliban đã dùng mìn phá hủy bức tượng Phật 1.700 tuổi ở Bamiyan. Tượng Phật nằm trên Con đường Tơ lụa, con đường gắn với hàng ngàn huyền thoại về giao thương giữa Trung Quốc và Tây Á.

Nhiều thế kỷ văn hóa sụp đổ trong tích tắc. Người ta vẫn gọi đó là tội ác.

Đây là Taliban trong mắt chúng ta:

Họ cai trị bằng luật Sharia hà khắc ngu ngốc. Phụ nữ không được phép đến trường. Khi ốm đau, họ không được phép đến các bệnh viện thông thường. Họ sẽ được đưa vào bệnh viện mà không cần gây mê. Một thành phố không có âm nhạc. Không có phim. Thả diều: Bị cấm. Bóng đá: Bị cấm. TV: Cấm. Những người may mắn tìm thấy TV buộc phải chôn xuống đất mỗi khi quân Taliban lục soát. Thành phố nào như vậy? Chỉ có thể nói rằng đó là một thành phố chết.

Và để xem tất cả những hình ảnh tàn khốc đó, bạn chỉ cần mở bất kỳ trang nào trong phần ba cuối của Nghìn mặt trời rực rỡ.

Tôi không biết Mullad Mohammed Omad đã giải thích tất cả như thế nào, nhưng về Đức Phật ở Bamiyan, ông nói:

“Tôi không có ý định đập phá tượng Phật Bamiyan. Thực tế, một vài người nước ngoài đã đến gặp tôi và nói rằng họ muốn sửa lại bức tượng đã bị mưa làm hư hỏng một chút. Điều đó khiến tôi thấy tủi thân. Tôi nghĩ những người vô cảm đó đừng quan tâm đến hàng ngàn người đang sống ngoài kia – những người Afghanistan đang chết đói, điều họ quan tâm là một tượng Phật vô hồn. Đó là lý do tại sao tôi ra lệnh phá hủy nó.”

Tôi không muốn nói gì thêm về chuyện này. Mỗi người nên giữ nhận định của riêng mình.

Có một điều ít ai biết, đó là có cả một dòng thơ tên là Taliban. Thơ ca là một phần của cuộc sống Afghanistan, và có rất ít người Afghanistan không thể đọc những bài thơ của Hafez hoặc Bedil. Giống như vô số người Afghanistan khác, Taliban cũng yêu thích thơ ca. Trong bài báo nhan đề “Sáo trúc và thuốc súng”, nhà báo Thomas Ruttig trích vài dòng thơ của binh lính Taliban:

“Cổ họng tôi nồng nặc khói đạn

Hãy để thế giới ngọt ngào như đường phèn

Từ bóng tối và nỗi buồn vô hạn

Hãy để thế giới bừng sáng với sự hào phóng”

Trong một bài thơ khác, người lính Taliban kể lại cảnh một đám cưới bị đánh bom, chỉ để quân đội phương Tây nhầm lẫn với quân nổi dậy.

“Cô dâu trẻ ngã xuống đây

Chú rể và lời chúc phúc hóa thành vật hiến tế

Họ lấy đi những trái tim đầy khao khát”

Talibs cũng nói về tình yêu và cuộc sống. Họ viết: “Tôi làm thơ, nhưng tôi không làm thơ về người tôi yêu. Tôi sẽ không nói về đôi môi nhỏ và đôi má hồng của cô ấy.”. Nhưng chẳng phải khi họ viết ra là họ đang nói về tình yêu đó sao?

“Trong giây phút ấy, khi bài hát đã tắt, khi người nhạc sĩ đã ngủ say

Trong khoảnh khắc đó, khi Imam giữ vững niềm tin vô tận

Trong khoảnh khắc đó, khi người nghệ sĩ thắp sáng màn đêm bằng chiếc rubab của mình

Trong khoảnh khắc ấy, khi gió hòa cùng lời cầu xin

Trong khoảnh khắc ấy, khi con chim sẻ đậu yên trên thánh đường

Trong khoảnh khắc đó, khi cậu bé bước vào, hai tay ôm chặt cuốn Kinh Qur’an

Một số người sẽ giữ niềm tin

Một số người cuối cùng sẽ đánh mất nó.”

Nếu bạn hoàn toàn không biết đó là một bài thơ của Taliban, tôi nghĩ bạn sẽ thấy nó hay và đẹp.

Tôi không biết điều gì đã xảy ra ở đây. Taliban đã sai, hoặc chúng tôi đã sai. Tôi chỉ nhớ ngày Donald Trump đắc cử tổng thống Mỹ, hàng triệu triệu người còn gọi đó là ngày American Idiot lại trở thành hiện thực, và sau đó, hàng triệu triệu người tìm đến thơ ca. Tờ Huffington Post cũng đăng một bài báo: 18 bài thơ giúp bạn vượt qua những lúc bất an. Mọi người nhớ lại Emily Dickinson và Maya Angelou nữa. Một bài thơ của Wendy Cope được chia sẻ bởi tất cả.

Có lẽ tất cả đều rất khó hiểu. Có lẽ nó dễ hiểu. Có lẽ tất cả đều không ổn, giống như nhân vật chính trong The Lobster bước vào một khách sạn xa lạ với quy định bắt buộc phải tìm bạn tình, nếu không sẽ bị biến thành động vật, và khi trốn thoát, khi ra ngoài, anh ta chạy vào một khu rừng, anh trở lại giang hồ với một quy tắc khác: không bao giờ yêu bất cứ ai.

Và không hiểu sao khi nghĩ đến Talibs, tôi lại chợt nghĩ đến Frida Kahlo và những bức chân dung tự họa đầy đau đớn về tinh thần và thể xác. Vậy mà trong bức tranh cuối cùng của cuộc đời, bà đã vẽ quả dưa hấu và thêm dòng chữ Viva la vida, Sống lâu. Hay giả sử Leonard Cohen luôn chìm trong tuyệt vọng, nhưng trong những năm cuối đời, ông đã viết: Mọi thứ đều có vết nứt, đó là cách ánh sáng chiếu vào.

Người Hazara có câu: tang amad, dar jang amad. Cuối cùng, đó là điều duy nhất không bao giờ sai. Luôn luôn có ai đó chiến đấu chống lại một cái gì đó. Taliban chống lại Liên Xô và người Mỹ chống lại Taliban. Cái chết luôn lên tiếng. Chúa im lặng. Hiệp sĩ Thập tự chinh trong The Seventh Seal chỉ có thể chơi cờ với Death. Và Chúa ở đâu? Ngay cả trong nhà thờ, không có ai xuất hiện. Chỉ có những bức tượng với đôi mắt của con người chảy máu. Tượng không chết, trong khi con người chết.

Chúng ta đều biết đó là một nỗi đau.

Hiền Trang

Leave a Comment