Vẻ đẹp dòng sông Hương được thể hiện trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ?

Vẻ đẹp dòng sông Hương được thể hiện trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là bài viết hôm nay pgdthanhphu.edu.vn cùng bạn tìm hiểu. Hãy đọc thật kĩ bài viết sau để hiểu rõ hơn nhé.!

ve-dep-dong-song-huong-duoc-the-hien-trong-but-ki-ai-da-dat-ten-cho-dong-song

Vẻ đẹp dòng sông Hương được thể hiện trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà văn chuyên về bút ký. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều và vốn kiến thức sâu rộng. Là nhà văn với lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm mà tài hoa. Nằm trong dòng chảy cảm xúc Hoàng phủ Ngọc Tường cũng để lại trong kho tàng văn học Việt Nam một sông Hương biệt lập khác lạ trong bút kí Ai đã đặt tên ch dòng sông ? Với ngôn từ hoa lệ giàu sức biểu đạt cùng với vốn hiểu biết sâu rộng, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa một dòng sông Hương có thể xem như tái hiện thành công nhất về vẻ đẹp của sông Hương – một biểu tượng cho văn hóa và tâm hồn của người con xứ Huế.

Pautopxki nói “niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xứ sở đẹp”, vậy nên Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa người đọc đến thăm sông Hương mang lại cho mảnh đất cố đô Huế một chất thơ nhẹ nhàng, trầm lắng và hài hòa trong nét đẹp của chiều sâu văn hiến.

Trước hết, vẻ đẹp và sức mạnh của sông Hương là “bản trường ca của rừng già” gắn liền với đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Con sông toát lên vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, bản trường ca bất tận của thiên nhiên “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy giữa cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn” rồi lại trở nên “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Câu văn dài như dư vang của bản trường ca. Với liên tưởng thú vị độc đáo và phép nhân hóa táo bạo, nhà văn đã tạo ra “giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Có lẽ rừng già đã hun đúc nên bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do, dòng sông như người con gái đầy cá tính hoang dại đầy tình tứ. Dòng sông không còn là vật vô tri vô giác mà trở thành cô gái mạnh mẽ, quyến rũ tràn ngập mê say.

Sông Hương là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Khi đi ra khỏi rừng “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ”. Từ một “cô gái” sông Hương đã được nhân cách hóa thành “người mẹ” bởi sự đằm thắm phì nhiêu, màu mỡ của đồng bằng châu thổ. Người mẹ đã bồi dưỡng đưa con cố đô thân yêu bằng phù sa ngọt ngào và những nét văn hóa lâu đời. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa sông Hương trở nên có lòng yêu thương, biết hi sinh và đặc biệt là mối quan hệ mẫu tử thiêng liêng giữa dòng sông Hương và thành phố Huế. Vậy nhưng dường như dù có sôi nổi nhiệt huyết đến đâu sông Hương cũng vẫn muốn giữ lại cho riêng mình một điều gì đó bí ẩn, thu liễu lại tính khí để trở nên trang nghiêm cổ kính giấu trọn trong rừng già “đóng kín lại ở rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”. Chỉ có người yêu vẻ đẹp của thiên nhiên đến da diết, ham muốn được tận hưởng trọn vẹn cảnh sắc của thiên nhiên hay cũng có thể hiểu ông yêu cảnh đẹp của Huế, yêu dòng sông của Huế và yêu lịch sử hình thành của Huế mới muốn tìm tòi khám phá những điều mà sông Hương vẫn giấu kín. Đó là hành trình đòi hỏi tâm huyết, tâm hồn tinh tế nhạy cảm và kiên nhẫn của người làm nghệ thuật.

Vượt ra khỏi Trường Sơn, sự lột xác của sông Hương khiến Hoàng Phủ Ngọc Tường liên tưởng đến “người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại”. Với vốn hiểu biết sâu rộng về địa lý cùng năng lực quan sát tinh tế, nhà văn đã gợi ra những dáng hình của sông “chuyển dòng một cách liên tục”, “uốn mình theo những đường cong thật mềm” cái mượt mà ấy khiến người đọc liên tưởng đến người con gái e ấp dịu dàng cũng không kém phần chủ động mãnh liệt. Nhà văn miêu tả dòng sông như một sự rượt “một cuộc tìm kiếm có ý thức, hàng loạt các động từ mạnh “liên tục”, “đột ngột” để miêu tả sự đổi dòng đầy bất ngờ thể hiện sự trăn trở của sông Hương khi chưa tìm thấy “người tình mong đợi”.

Sông Hương khi chảy xuôi về đồng bằng vẫn dư vang của Trường Sơn, trôi qua “giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách” để gợi lên sự hùng vĩ mạnh mẽ của thiên nhiên thì sông Hương lại trở nên mĩ miều với sắc nước “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Khác với con sông Đà của Nguyễn Tuân thay đổi sắc nước theo mùa thì sông Hương hiện thân của xứ Huế với sắc tím đặc trưng.

Khi sông Hương lững lờ chảy ngang qua những lăng tẩm của ông hoàng bà chúa khi xưa nó lại mang một vẻ trầm mặc, cổ thi tựa như bức tranh thủy mặc, dường như con sông đang cố tỏ tấm lòng thành kính, là những hoài niệm về kinh thành Huế vẻ vang.

“Bốn bề núi phủ mây phong
Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”

Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lý, như cổ thi – một vẻ đẹp đặc trưng của miền đất cố đô. Tiếng chuông chùa Thiên Mụ đã đánh thức con sông ra khỏi dòng hoài niệm, nó gọi về với sự hồn nhiên vui tươi “những bãi biển xanh biếc của vùng ngoại ô KIm Long” tựa như đứa con thấy đường về nhà một cảm giác an tâm và yên bình. Đến đây tài năng văn chương của ông lại có dịp thăng hoa khi chảy vào đến thành phố Huế ta không còn bắt gặp những cảm xúc băn khoăn trăn trở “đổi dòng, vặn mình” liên tục mà là “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng Tây Nam, Đông Bắc”. Không còn cảm thấy lạc lõng bơ vơ sông Hương đã tìm thấy “người tình” được ôm ấp trong lòng của một cố đô cổ kính. Nổi bật trên nền xanh của sông Hương là “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một chiếc vành trăng non”. Nhà thơ Nguyễn BÍnh đã có câu thơ lục bát để nói về vẻ đẹp của cầu Tràng Tiền xứ Huế:

“Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung Nga buông hờ”

Khác với sự so sánh cây cầu với chiếc lược ngà của Nguyễn Bính, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấy cầu Tràng Tiền như một vành trăng khuyết – một hình ảnh tinh khôi trong ngần cũng có thể hiểu đó là tuổi đẹp nhất của người con gái độ đương thì đang làm dáng làm duyên “làm cho sông như mềm hẳn đi, một tiếng “vâng” của tình yêu”. Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ tương quan của dòng sông và người con gái cố đô dịu dàng duyên dáng mà nết na ý nhị.
Cố đô Huế luôn được nhớ đến với thành phố của nỗi buồn trầm mặc bởi vậy khi tiến hẳn vào Huế sông Hương lại được ví như “một điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Bởi tác giả đã tinh tế nhận ra khi tiến đến gần Huế dòng chảy sông Hương bỗng chậm rãi rất nhiều tựa như “mặt hồ yên tĩnh”. Câu văn êm đềm tựa như tiếng nhạc chậm rãi, du dương làm con người chìm vào khoảng không gian bình yên trữ tình hiếm hoi. Đặc biệt trình độ văn hóa uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh sông Hương với những con sông lớn trên thế giới như sông Nê-va của Lê-nin-grat, sông Xen của Paris… để làm nổi bật nên vẻ đẹp độc đáo của sông Hương vào ban đêm “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài”. Nhà văn say đắm trong điệu lững lờ của sông Hương qua thành phố Huế, nhớ lại dòng sông Hương thân yêu dịu hiền trong lòng xứ Huế mộng mơ.

Khi rời khỏi thành phố Huế, sông Hương vẫn quyến luyến, bịn rịn “ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Thế nên sông Hương “đột ngột đổi dòng rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao vinh xưa cô”. Nhà văn đã nhân hóa dòng sông biến nhớ nhung tiếc nuối vương vấn.

Vẻ đẹp lịch sử của Huế là điều không thể phủ nhận và bàn cãi, suốt bao nhiêu năm lịch sử để chứng kiến bao thăng trầm của thời nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét song tên thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”. Dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía Nam tổ quốc. Mọi sự kiện lịch sử trọng đại nào cũng diễn ra ở kinh thành Huế. Sông Hương là “dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi dưới màu cỏ lá xanh biếc. Với những sự kiện lịch sử trọng đại, những biến cố thay đổi sông Hương cũng âm thầm khắc ghi cất giấu như một nhà sử thi với vốn hiểu biết tường tận sâu rộng mà kín tiếng. Dù đã trải qua những mấy ngàn năm lịch sử, chịu tác động trực tiếp bởi chiến tranh nhưng tâm hồn dòng sông Hương chưa bao giờ già nua héo úa. Đâu đó vẫn là hình ảnh cô gái Di-gan hoang dại cá tính, hay dáng vẻ yêu kiều của cô gái tuổi đôi mươi đang tìm kiếm hạnh phúc. Mặt khác, sông Hương là cội nguồn của thi ca nghệ thuật, có biết bao thi nhân rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu. Mỗi nhà văn đều đem đến cho người đọc một dòng sông Hương mới mẻ khác lạ sông đều đẹp đến say đắm lòng người. Như Hàn Mặc Tử so sánh sông Hương như dải sông trăng vô tận:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”

Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhận xét rất hay về phong cách bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa”, bởi lẽ ông đã đặt toàn bộ tình yêu xứ Huế mộng mơ để kiến cho độc giảm cảm thấy yêu thành phố cổ xưa trầm lắng, yêu dòng sông Hương thơ mộng. Với ngòi bút tài hoa và vốn hiểu biết sâu rộng, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện rõ vẻ đẹp của sông Hương êm đềm lững lờ ôm trọn Huế. Phải trân trọng đến nhường nào ông mới vất vả nghiên cứu tìm tòi sông Hương từ thượng nguồn từ rừng già đến những điều mà dòng sông muốn giữ cho riêng mình. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? không chỉ tìm hiểu về vẻ đẹp của sông Hương mà còn về địa lý, lịch sử, văn hóa, con người xứ Huế. Tổng hòa điều ấy đã tạo nên một tuyệt bút xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu văn hóa của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Cũng viết về dòng sông nhưng Nguyễn Tuân trong Người lái đò sông Đà (trích Tùy bút sông Đà) lại có một góc nhìn rất khác, rất lạ. Ở Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân tập trung tô đậm nét hung bạo dữ dội của sông Đà, ví con sông như kẻ thù hiểm độc và hung ác. Nét hung bạo ấy có thể thấy rõ qua diện mạo khác thường của dòng sông với cảnh “đá bờ sông dựng đứng vách thành” “mặt sông chỉ đúng chính ngọ mới có mặt trời”, vách đá chen lòng sông như một cái “yết hầu” hay “có chỗ con nai con hổ có thể vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia”. Không chỉ vách đá ven sông, hình ảnh của sóng nước trên mặt ghềnh Hát Lóng “dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”.

Nhưng đáng sợ hơn nữa lại chính là quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La với những cái hút nước sông Đà đầy dữ dội: “Trên sông bỗng có những cái hút nước, giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”. Nhà văn đã đem đến một loạt hình ảnh, âm thanh gai rợn, độc đáo qua biện pháp so sánh thường thấy trong tùy bút này. Âm thanh của cái giếng nước ấy càng ghê rợn hơn khi nó phát ra tiếng ùng ục như bị nghẹt lại, bị chặn đứng ở cuống họng mà sặc sụa, đau điếng. Và không chỉ như thế, trên quãng sông lúc bấy giờ, nước gầm réo lên, tung bọt trắng xóa như bị rót dầu sôi vào lúc đang nóng bừng bừng. Tất cả hình ảnh, âm thanh đó đã kết hợp lại làm thành một “ngoại hình” thật đáng sợ cho cái hút nước sông Đà. Sức mạnh của những cái hút nước hiện lên qua sự tái hiện một chiếc bè gỗ khi vô tình lọt vào: “trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ… nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô lý là những cái giếng ấy nó lôi tuột xuống… thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi”.

Và hình tượng một con sông Đà hung tợn, dữ dội đã được đặc tả đậm đặc nhất ở thác đá sông Đà – mấy chục con thác đá tạo thành các thạch thủy trận vô cùng hiểm trở với biết bao cửa tử. Ở đây, thác đá sông Đà được cảm nhận trực tiếp qua hình ảnh và gián tiếp qua âm thanh. Khi ở xa, tiếng thác gào lên rùng rợn, đầy hoang dã. Khi đến gần, những âm thanh đó không còn là các cấp độ chậm rãi, mà nó biến thành một trường đoạn âm thanh liên hồi khủng khiếp, một tổ hợp âm thanh làm người ta bàng hoàng.

Khác với Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường tự chọn cho mình lối chơi “độc bạch”, thiên nhiều về tư duy hướng nội, lắng đọng suy tư để miêu tả hình tượng sông Hương. Chính vì thế, sông Hương được tô đậm ở nét trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của một người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm.  “Ở thượng nguồn sông Hương như một cô cái Di-gan phóng khoáng và man dại… rừng già đã hun đúc cho nó bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và phóng khoáng”. Tác giả đã miêu tả sông Hương ở thượng nguồn với sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng dịu dàng, say đắm. Dòng sông đã được thổi bằng ngọn gió tâm hồn dào dạt, nhạy cảm, liên tưởng tự do, phong phú. Khi ra khỏi rừng, sông Hương được thay đổi tính cách “sông như chế ngự được bản năng con gái để mang một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa cho một vùng văn hóa xứ sở”.

Sông Hương trở thành niềm tự hào của Huế vì vậy khi nhắc về nó thông thường người ta hình dung đến gương mặt kinh thành đầy trữ tình như Hoàng Phủ Ngọc Tường để tìm tận về nguồn cội để phát hiện bản chất của cô gái Di-gan, sự cá tính, mạnh mẽ, bản lĩnh, gan dạ, và vững vàng. Đó là một phát hiện đầy lý thú về một dòng sông quen thuộc. Miêu tả sông Hương, nhà văn không nhìn nhận nó trong tư thế độc lập mà đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với kinh thành Huế. Dòng sông mang linh hồn và cảm xúc như một tình nhân trên hành trình tìm kiếm tình yêu đích thực.

Đã có bao đêm sông Hương tình tự bên thành phố thân yêu của mình để rồi đến lúc phải rời đi nó lại chẳng muốn chia xa mà bịn rịn, quyến luyến. Sông Hương gặp lại thành phố Huế ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ như để nói một lời thề chung thủy với mảnh đất cố đô. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, là tấm lòng của người dân Châu Hóa xưa mãi chung tình với quê hương, xứ sở. Một cái nhìn nghệ sĩ tài hoa, đa tình mà có lẽ chỉ riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường mới có được.

Cả hai nhà văn đều khắc họa hình tượng dòng sông với vẻ đẹp, dáng vẻ phong phú, đa dạng ở nhiều khoảng thời gian, không gian, với điểm nhìn khác nhau, bên cạnh đó, cũng không ít điểm chung được hai nhà văn khắc họa khi khám phá những dòng sông này.  Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ và dữ dội.

Lấy cảm hứng từ vẻ đẹp lộng lẫy của thiên nhiên, hai con sông với hai góc nhìn khác nhau nhưng để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc. Chúng đều được nhìn nhận như hai nhân vật trữ tình, có tâm tư và suy nghĩ riêng. Cũng như con người, cả hai dòng sông đều được đánh giá dựa trên hai mặt đối lập trữ tình – hung bạo để người ta có thể hình dung toàn diện về chúng. Một đặc điểm không thể không kể đến đó là ngòi bút miêu tả tài hoa, uyên bác của hai tác giả khi miêu tả về dòng sông: chúng đều được nhìn nhận dưới phương tiện văn hóa – thẩm mỹ. Sông Đà đại diện cho thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất trữ tình, còn sông Hương lại là hiện thân cho nét đặc sắc của âm nhạc, thi ca, lịch sử và con người kinh thành Huế.

Có thể nói “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” đã mang đến những phát hiện mới lạ và độc đáo của sông Hương cho độc giả cả nước. Sông Hương, một dòng sông mang dại ở khúc thượng nguồn. Sông Hương, trở nên dịu dàng và say đắm, thủy chung khi gặp được người tình của mình là xứ Huế đầy thơ mộng trữ tình. Sông Hương đi vào trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường không đơn thuần là một cảnh quan thiên nhiên vô tri vô giác mà nó còn chứa đựng trong tâm hồn đầy rẫy cung bậc cảm xúc và tình yêu.

Xem thêm:

Chủ đề liên quan:


Danh mục: Ngữ Văn 12

Leave a Comment